BD_VAN_10_CB.html

Borderlands

SGK: Sách giáo khoa

VD: Ví dụ

TK: Thế kỉ

THCS: Trung học cơ sở

TUẦN 1

ĐỌC VĂN:

TỔNG QUAN NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM

A- KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

I- Các bộ phận hợp thành của văn học Việt Nam

1- Văn học dân gian:

- Là những sáng tác tập thể và lưu truyền bằng miệng của nhân dân lao động.

- Ra đời sớm nhất, từ khi con người còn chưa có chữ viết, và tất nhiên, ra đời trước văn học viết.

- Trong thời hiện đại, văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển vì nó thoả mãn được nhu cầu thị hiếu tập thể của quần chúng lao động.

- Văn học dân gian gồm nhiều thể loại phong phú.

- Văn học dân gian là cuốn “sách giáo khoa của cuộc sống”, tức có giá trị nhiều mặt.

- Vị trí của văn học dân gian: làm cơ sở, nền tảng cho văn học viết phát triển.

2- Văn học viết:

- Là bộ phận do giới trí thức sáng tác và lưu truyền bằng con đường chính thống.

- Ra đời sau văn học truyền miệng (khoảng từ TK. X) nhưng có địa vị thống trị trong đời sống văn học của dân tộc.

- Là những sáng tác cá nhân nên mang dấu ấn phong cách cá nhân của từng tác giả.

- Văn học viết Việt Nam gồm nhiều loại tuỳ theo chữ viết:

+ Văn học viết bằng chữ Hán: là bộ phận rất lớn, gồm các sáng tác trung đại, cận đại và cả một số tác phẩm thời hiện đại (như Nhật kí trong tù và thơ kháng chiến của Bác).

+ Văn học viết bằng chữ Nôm: là bộ phận tuy có địa vị thấp và số lượng không nhiều trong thời trung đại, nhưng giá trị văn học lại rất lớn, đặc biệt là có những đỉnh cao của văn học dân tộc và có vị trí trong văn học thế giới (như văn thơ Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du...).

+ Văn học viết bằng chữ quốc ngữ: là bộ phận ra đời sau nhưng có vị trí độc tôn trong văn học hiện đại.

+ Ngoài ra còn có bộ phận văn học đặc biệt, viết bằng tiếng Pháp: gồm những sáng tác của Nguyễn ái Quốc những năm 1920, xuất bản trên đất Pháp.

II- Hai thời đại lớn của văn học Việt Nam

1- Thời kì văn học trung đại (Từ TK. X đến TK. XI)

Những nét chính:

a- Văn học viết bằng chữ Hán ra đời từ TK. X, chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa văn học Trung Quốc, mang tư tưởng Nho, Phật, Lão; có các hình thức thể loại gần giống với văn học Trung Quốc, chủ yếu là thơ Đường luật.

Các tác phẩm chính: Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác)...

b- Văn học viết bằng chữ Nôm ra đời khoảng TK XIII, bắt đầu phát triển từ TK XV, đỉnh cao là Truyện Kiều của Nguyễn Du (cuối TK XVIII- đầu TK XIX).

Các tác giả, tác phẩm chính: Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi - TK. XV), Hồng Đức Quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn- TK. XVI), Bạch Vân quốc ngữ thi tập- Nguyễn Bỉnh Khiêm- TK. XVII), Truyện Kiều (Nguyễn Du- TK. XVIII-XIX), Chinh phụ ngâm (Bản dịch của Đoàn Thị Điểm- TK.XIX), Xuân Hương thi tập (Hồ Xuân Hương), thơ của Bà huyện Thanh Quan, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) v.v...

Văn học viết bằng chữ Nôm có quan hệ gần gũi với văn học dân gian, có tính dân tộc và giữ vai trò quan trọng trong quá trình dân chủ hóa nền văn học trung đại.

2- Thời kì văn học hiện đại (Từ đầu TK. XX đến nay)

- Chủ yếu viết bằng chữ quốc ngữ.

- Có 2 giai đoạn chính:

a- Giai đoạn trước1945:

+ Đây là giai đoạn có bước ngoặt trong lịch sử phát triển, từ thời trung đại sang thời hiện đại.

+ Tiếp thu văn hóa văn học Pháp và phương Tây, làm thay đổi hẳn bộ mặt của văn học Việt Nam.

+ Tiếp thu và kế thừa những tinh hoa của văn học truyền thống, làm nên tính dân tộc cho văn học giai đoạn này.

+ Bước ngoặt trong lịch sử phát triển là vào những năm 1930- 1945, với các đỉnh cao thuộc phong trào Thơ Mới, văn học hiện thực phê phán và văn học cách mạng.

b- Giai đoạn 1945- nay:

Đây là giai đoạn văn học Việt Nam có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, coi trọng tính dân tộc, tính đại chúng, và phục vụ trực tiếp, đắc lực cho sự nghiệp kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, và hiện nay (sau 1975) đang nỗ lực tìm hướng đổi mới và hội nhập quốc tế.

III- Đặc điểm của con người Việt Nam qua các tác phẩm văn học.

1- Trong quan hệ với thế giới tự nhiên, con người Việt Nam luôn có tình yêu thiên nhiên, tâm hồn rộng mở trước thiên nhiên.

2- Trong quan hệ với quốc gia, dân tộc, con người Việt Nam luôn có lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì tự do, độc lập của quốc gia, dân tộc.

3- Trong quan hệ với xã hội, con người Việt Nam luôn giàu lòng nhân ái, vị tha.

4- Đối với bản thân, con người Việt Nam luôn có ý thức về bản thân: rất có ý thức về danh dự, lòng tự trọng, nhân phẩm, lương tâm...; ý thức đó lại luôn gắn bó với ý thức cộng đồng. Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể luôn luôn thống nhất, gắn bó, hài hoà.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Câu hỏi 1- Hãy vẽ sơ đồ các bộ phận của văn học Việt Nam

Tham khảo:

Chú ý: Trong sơ đồ, phần văn học viết còn có thể được biểu diễn thành 4 bộ phận dựa theo chữ viết: văn học viết bằng chữ Hán, - chữ Nôm, -chữ quốc ngữ, và - bằng tiếng Pháp; phần văn học dân gian có thể chia thành 12 thể loại như trong SGK.

Câu hỏi 2- Ý nghĩa của “bút lông” và “bút sắt”:

+ “Bút lông” là bút dùng để viết chữ Nho, ý nghĩa biểu trưng cho nền văn học trung đại. “Bút sắt” là bút dùng để viết chữ quốc ngữ, biểu tượng chỉ nền văn học hiện đại.

+ “Bút lông” và “bút sắt” gợi ra đặc điểm của hai thời đại lớn của văn học Việt Nam: thời kì văn học trung đại chịu ảnh hưởng của Hán học; thời kì văn học hiện đại chịu ảnh hưởng của Tây học.

Câu hỏi 3- Chứng minh cho những đặc điểm của con người Việt Nam qua văn học.

Gợi ý:

 -  Đặc điểm 1 (Tình yêu thiên nhiên). Chứng minh bằng các bài thơ đã học ở cấp dưới như: Côn Sơn ca (Nguyễn Trãi), Qua đèo Ngang (Bà huyện Thanh Quan), Thi vịnh, Thu điếu, Thu ẩm (Nguyễn Khuyến), Rằm tháng giêng (Thơ kháng chiến của Bác) hoặc các bài thơ, câu thơ khác viết về đề tài thiên nhiên mà em biết.

- Đặc điểm 2 (Lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh vì tự do, độc lập của quốc gia, dân tộc). Chứng minh bằng các bài Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)...

Chú ý: Lòng yêu nước có nhiều biểu hiện phong phú, cần phân tích các tác phẩm này để thấy những biểu hiện ấy. Chẳng hạn, lòng yêu nước biểu hiện ở các khía cạnh sau:

+ Lòng tự hào dân tộc, lòng tự trọng danh dự quốc gia (Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo...).

+ Lòng căm thù quân xâm lược (Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc...).

+ Khẳng định quyền tự chủ về mặt lãnh thổ (Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo...).

+ Khẳng định truyền thống văn hoá, quyền lợi của nhân dân... (Bình Ngô đại cáo)...

- Đặc điểm 3 (Giàu lòng nhân ái, vị tha). Chứng minh qua các tác phẩm: Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh, Chinh phụ ngâm...

- Đặc điểm 4 (Luôn có ý thức về bản thân, coi trọng danh dự, nhân phẩm, lương tâm...; ý thức đó lại luôn gắn bó với ý thức cộng đồng). Chứng minh qua các tác phẩm Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc...

Ghi nhớ: HS đọc- hiểu  ghi nhớ trong SGK.

TIẾNG  VIỆT:  HOẠT  ĐỘNG  GIAO TIẾP  BẰNG  NGÔN NGỮ 

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, thông tin... giữa con người với con người trong xã hội. Giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều loại phương tiện, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất.

2- Hoạt động giao tiếp bao gồm 2 quá trình (hay 2 phương diện): quá trình sản sinh (nói, viết), và quá trình tiếp nhận (đọc, nghe). Hai quá trình này có quan hệ mật thiết và tương hỗ.

3- Các nhân tố trong hoạt động giao tiếp bao gồm: nhân vật giao tiếp (người nói- người nghe), nội dung giao tiếp (văn bản nói, viết chứa thông tin), mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp (thời gian, không gian, văn hóa, lịch sử, xã hội...), phương tiện và cách thức giao tiếp...

II- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1-

Gợi ý: 

a- Các nhân vật giao tiếp trong hoạt động giao tiếp mà văn bản trên ghi lại gồm có: Vua Trần Nhân Tông, các bô lão và những người khác (không nói rõ).

b- Trong hoạt động giao tiếp trên, người nói và người nghe luôn đổi vai cho nhau. Lúc đầu, vua Nhân Tông là người nói, các bô lão là người nghe, sau đó, các bô lão lại là người nói: “Xin bệ hạ cho đánh”, “Thưa, chỉ có đánh”..., “Đánh! Đánh!”.

Người nói đầu tiên là vua Trần Nhân Tôn thực hiện hành động “trịnh trọng hỏi”; Khi mọi người đáp (trở thành người nói) thì có hành động “xôn xao, tranh nhau nói”. Lần thứ hai, vua trở thành người nói, động tác kèm theo, báo hiệu tư cách người nói là: vua “nhìn những khuôn mặt đẹp lồng lộng, hỏi lại lần nữa”; còn những người nghe là các bô lão, cuối cùng trở thành người nói qua hành động: “...tức thì, muôn miệng một lời...”.

c- Hoàn cảnh giao tiếp:

- Địa điểm: tại điện Diên Hồng.

- Thời gian: Vào thời vua Trần Nhân Tông. Khi đó, nước ta đang bị đế quốc Nguyên- Mông đe doạ xâm lăng.

d- Hoạt động giao tiếp trên hướng vào nội dung: thảo luận nhiệm vụ quốc gia khi có giặc ngoại xâm. Vấn đề cụ thể trong hoạt động giao tiếp trên là: Nên hoà (tức đầu hàng) hay nên đánh?

e- Cuộc giao tiếp trên nhằm mục đích: kêu gọi các bô lão, thông qua các bô lão để động viên khích lệ toàn dân quyết tâm đánh giặc cứu nước.

Mục đích giao tiếp đó đã đạt được một cách mĩ mãn.

Bài tập 2-

Gợi ý: 

a- Các nhân vật giao tiếp:

- Người viết: Các giáo sư và các thầy cô giáo có trình độ và kinh nghiệm giảng dạy.

- Người đọc: HS lớp 10, lứa tuổi 15- 16, mới học xong bậc THCS.

b- Hoàn cảnh: Nhà trường, có chương trình, có tổ chức, kế hoạch dạy học.

c- Nội dung: Thuộc lĩnh vực lịch sử văn học.

Đề tài: Lịch sử văn học Việt Nam.

Vấn đề: Các thành phần và quá trình phát triển của văn học Việt Nam.

d- Mục đích của hoạt động giao tiếp:

+ Về phía người viết: Cung cấp cho HS những tri thức cơ bản về nền văn học Việt Nam.

+ Về phía HS: Tiếp thu những kiến thức về văn học Việt Nam.

đ- Phương tiện ngôn ngữ có đặc điểm nổi bật là dùng phong cách khoa học phối hợp với thuyết minh, trong đó chủ yếu là phong cách khoa học. Cách tổ chức văn bản: được kết cấu thành các phần mục rõ ràng, trong đó có các đề mục lớn, nhỏ, trình bày một cách mạch lạc, chặt chẽ...

TUẦN 2

ĐỌC VĂN:      KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM

A- KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

1- Ba đặc trưng cơ bản của văn học dân gian:

a- Văn học dân gian là những tác phẩm truyền miệng (Tính truyền miệng).

b- Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể).

c- Văn học dân gian luôn gắn bó và phục vụ trực tiếp các sinh hoạt tinh thần của quần chúng (Tính thực hành).

2- Văn học dân gian gồm 12 thể loại chính: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, tục ngữ, câu đó, ca dao, vè, truyện thơ,  chèo. Các thể loại gắn bó với nhau trong tổng thể văn hoá dân gian.

3-Văn học dân gian có giá trị nhiều mặt: là một pho tri thức bách khoa, là những bài học giáo dục đạo đức, lối sống; đặc biệt là kho lưu giữ nghệ thuật truyền thống của dân tộc, có thế mạnh trong hội nhập quốc tế.

4- Văn học dân gian có vị trí là nền tảng cho văn học viết, làm cơ sở cho sự phát triển của văn học dân tộc.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Câu 1- Trình bày từng đặc trưng cơ bản của văn học dân gian.

Gợi ý:  Dựa vào SGK, trình bày ngắn gọn rõ ràng.

Ba đặc trưng cơ bản của văn học dân gian là:

+ Tính truyền miệng. Đây là đặc trưng của quá trình sáng tác và lưu truyền. Nhân dân lao động sáng tác bằng ngôn ngữ nói, ngay từ khi chưa có chữ viết. Quá trình lưu truyền tiếp tục bổ sung cũng bằng ngôn ngữ nói. Về sau, người ta sưu tầm và ghi chép lại, ấy là khi tác phẩm đã hoàn thành và lưu hành, thậm chí qua hàng trăm năm.

+ Tính tập thể. Quá trình sáng tác lúc đầu do một cá nhân, nhưng đượch nhiều người tham gia sửa chữa, thêm bớt, cuối cùng đã trở thành sản phẩm chung, có tính tập thể.

+ Tính thực hành. Văn học dân gian không tồn tại đơn lẻ , trên lí thuyết, mà bao giờ cũng gắn với một laọi hình hoạt động nhất định của nhân dân lao động. Ví dụ: hát ru, hò đi cấy, hát ví, hát đối v.v...

Câu hỏi 2- Văn học dân gian Việt Nam có những thể loại nào? Nêu tên gọi, định nghĩa ngắn gọn và ví dụ cho mỗi thể loại.

Gợi ý: 

Các ý chính:

a- Truyện thần thoại: Truyện về các vị thần, nhằm giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội. VD: Sơn tinh- Thủy tinh, Sự tích con rồng cháu tiên...

b- Sử thi dân gian: Truyện văn vần, hoặc kết hợp văn vần với văn xuôi, kể lại các sự kiện lịch sử.... VD: Đam San.

c- Truyền thuyết: Truyện văn xuôi, kể về các nhân vật, sự kiện lịch sử. VD: Truyền thuyết Hùng Vương, An Dương Vương và Mỵ Châu, Trọng Thủy...

d- Cổ tích: Truyện văn xuôi , kể về số phận các nhân vật, phản ánh cuộc đấu tranh xã hội và phản ánh ước mơ của nhân dân...VD: Thạch Sanh, Tấm Cám...

e- Truyện cười: Truyện gây cười, nhằm giải trí hoặc phê phán. VD: Tam đại con gà, Nhưng nó phải bằng hai mày...

g- Truyện ngụ ngôn: Truyện ngụ những triết lý hoặc kinh nghiệm ở đời. VD: Treo biển, Trí khôn...

h- Tục ngữ: Văn vần, đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc kinh nghiệm cuộc sống. VD: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.

i- Câu đố: Văn vần, miêu tả sự vật theo lối ám chỉ, nhằm giải trí và rèn luyện khả năng liên tưởng, suy đoán. VD: Trong trắng ngoài xanh, đóng đanh từng khúc (cây tre).

k- Ca dao- dân ca: Văn vần, diễn tả tình cảm, thường có nhạc. VD: Trống cơm khéo vỗ nên vông- Một bầy con kít lội sông đi tìm...

l- Vè: Văn vần, kể lại hoặc bình luận về các sự kiện nhân vật... VD: Vè thằng nhác.

m- Truyện thơ: Văn vần, vừa tự sự vừa trữ tình, thường kể về những con người nghèo khó, thể hiện khát vọng tình yêu tự do. VD: Tiễn dặn người yêu (Thái).

n- Chèo (và các hình thức sân khấu dân gian khác): là các hình tức ca, múa, kịch dân gian. Bên cạnh chèo còn có tuồng đồ, cải lương, một số trò diễn có tích truyện... Ví dụ: Chèo Quan âm Thị Kính; Thoại Khanh- Châu Tuấn, Lưu Bình - Dương Lễ, Thạch Sanh, Tấm Cám, Tống Trân- Cúc Hoa v.v...

Câu hỏi 3- Tóm tắt giá trị nhiều mặt của văn học dân gian:

Gợi ý:  

a- Văn học dân gian có giá trị nhiều mặt: vừa chứa đựng những tri thức về tự nhiên và xã hội, vừa mang những giá trị nhân văn của 54 dân tộc.

b- Văn học dân gian có tác dụng giáo dục tốt, là nhân tố quan trọng trong việc hình thành tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam.

c- Văn học dân gian có giá trị về mặt nghệ thuật, là nơi lưu giữ và phát triển nghệ thuật truyền thống vô giá của dân tộc.

Luyện tập: So sánh những điểm giống và khác nhau giữa các thể loại văn học dân gian.

Gợi ý: 

+ 12 thể loại văn học dân gian đề có những điểm giống nhau: đó là các đặc điểm cơ bản của văn học dân gian (Tính truyền miệng, tính tập thể, tính thực hành..., và có thể kể thêm một số đặc trưng khác như tính dị bản, tính vô danh...).

+ Phân biệt 12 thể loại văn học dân gian dựa trên các tiêu chí sau đây;

- Về mặt loại văn, các thể loại trên khác nhau ở chỗ chúng là văn vần, văn xuôi hay sân khấu?

Văn xuôi gồm: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn.

Văn vần gồm: Sử thi, ca dao, tục ngữ, câu đố, vè, truyện thơ...

Sân khấu có chèo (và một số loại sân khấu khác).

- Trong văn xuôi dân gian, các thể loại khác nhau về thời điểm ra đời, thời kì thịnh hành và đặc trưng nội dung, nghệ thuật. Cụ thể:

Thần thoại ra đời sớm nhất, khi con người chưa lí giải được các hiện tượng tự nhiên, nội dung truyện chủ yếu đề cập đến đặc trưng tính cách, cuộc sống của các vị thần, nghệ thuật mang tính kì ảo, hoang đường.

Truyền thuyết ra đời muộn hơn, khi xã hội đã xuất hiện cuộc chiến giữa các dân tộc. Nội dung truyện đề cập chủ yếu đến số phận các nhân vật lịch sử. đời sống thần linh bị lu mờ nhưng vẫn còn chi phối sâu sắc tới cuộc sống của con người.

Cổ tích ra đời trong xã hội đã phát triển, nội dung đề cập đến các vấn đề đấu tranh xã hội giữa chính- tà, thiện- ác. Về nghệ thuật, tuy còn nhiều yếu tố hoang đường nhưng đó chỉ là nhân tố phù trợ cho nhân vật chính diện.

Truyện cười và ngụ ngôn ra đời trong xã hội phát triển, các mối quan hệ xã hội đã bộc lộ mặt trái mâu thuẫn đáng cười hoặc đủ để rút ra kinh nghiệm.

- Trong văn vần dân gian, các thể loại khác nhau về đặc điểm nội dung và nghệ thuật.

Sử thi có cốt truyện gần giống với truyền thuyết nhưng được làm bằng thơ.

Ca dao thường là phần lời của các bài hát dân ca đã lược bỏ đi phần nhạc. Nội dung đề cập đến mọi mặt của cuộc sống xã hội, trong đó chủ yếu là đời sống tình cảm của nhân dân lao động v.v...

Truyện thơ có thể coi như những truyện cổ tích bằng thơ hoặc những bài ca dao dài bộc lộ tình cảm qua một cốt truyện. Chẳng hạn truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái.

Tục ngữ là những câu nói vần, dùng để đúc kết kinh nghiệm quan sát, kinh nghiệm ứng xử cuộc sống... Về nghệ thuật, tục ngữ có đặc trưng là khái quát hóa cao độ.

Vè là những câu nói có vần, ghép lại với nhau theo hình thức của thơ (thường là loại ba, bốn chữ), nhưng nội dung rất cụ thể, rõ ràng, không hàm ý, gợi ý như thơ. Nội dung thường phê phán, chế giễu một loại thói hư tật xấu nào đấy hay quảng cáo tuyên truyền cho một chủ trương chính sách...

TIẾNG VIỆT:    HOẠT  ĐỘNG  GIAO TIẾP  BẰNG  NGÔN NGỮ 

(Tiếp theo)

Luyện tập:

Bài tập 1- Phân tích các nhân tố giao tiếp trong câu ca dao...

Gợi ý:  

a- Nhân vật giao tiếp trong câu ca dao trên là một chàng trai và một cô gái.

b- Thời gian: Đêm trang thanh. Thích hợp với những cuộc chuyện trò tình tứ của đôi bên nam nữ, của những buổi hát đối, hát ghẹo, hát giao duyên trong sinh hoạt dân ca.

c- Nhân vật anh nói về điều gì? Nhằm mục đích gì?

+ Nói về việc “tre non đủ lá” dùng để “đan sàng”.

+ Mục đích: Ướm hỏi, tỏ tình (Nghĩa hàm ẩn: người đã đủ lớn khôn, nên kết duyên).

d- Cách nói của anh rất phù hợp với mục đích giao tiếp.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:  

a- Các hành động nói cụ thể: Chào, nói, thưa.

b- Trong lời nói của ông già, cả ba câu đều là câu hỏi, nhưng mục đích không phải đều để hỏi.  Câu 1 (A Cổ hả?) là câu hỏi thay chào, đáp lại lời chào của A Cổ. Câu 2 (Lớn tướng rồi nhỉ?) là lời khen, dùng để biểu thị tình cảm, không mang tính nghi vấn. Chỉ có câu 3 là có mục đích hỏi.

c- Lời nói của các nhân vật bộc lộ thái độ, tình cảm và quan hệ trong giao tiếp:

+ Tình cảm giữa hai người rất thân mật, tin cậy lẫn nhau.

+ Thái độ: cậu bé rất kính trọng ông già; ông già rất mến yêu cậu bé.

+ Quan hệ: hai người khác lứa tuổi nhưng có quan hệ tốt về mọi mặt.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:  

a- Hồ Xuân Hương “giao tiếp” với bạn đọc về vấn đề thân phận người phụ nữ, nhằm mục đích biểu thị tấm lòng trong sạch của người con gái, đồng thời có ý trêu đùa, bỡn cợt các chàng trai quân tử thời phong kiến. Tác giả đã sử dụng các từ ngữ đa nghĩa, hình ảnh nhiều ẩn ý.

b- Người đọc căn cứ vào từ ngữ, hình ảnh trong bài thơ, cũng như cần căn cứ vào cuộc đời, thân phận tác giả để cảm nhận bài thơ này?

Bài tập 4- Viết đoạn văn thông báo ngắn về nội dung làm sạch môi trường (SGK)

Tham khảo: 

Trường THPT Nga Lam

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh                THÔNG BÁO

   (Về hoạt động làm sạch môi trường)

Kính gửi: Các chi đoàn trường THPT N.

Nhân ngày Môi trường thế giới, Đoàn trường TNCS Nga Lam phát động một ngày làm việc vì môi trường xanh, sạch, đẹp.

Nội dung hoạt động: Dọn vệ sinh khu vực xung quanh trường, trồng và chăm sóc, bảo vệ cây xanh.

Thời gian: 01 ngày, từ 7 h00 chủ nhật (04 tháng 6 năm 2006).

Ban chấp hành các chi đoàn tập hợp đoàn viên chi đoàn mình có mặt tại sân trường trước 15 phút.

TM BCH Đoàn trường

Bí thư

Nguyễn Thị Thanh Hà

Bài tập 5- (SGK)

Gợi ý:  Phân tích các nhân tố giao tiếp của bức thư Bác Hồ gửi HS cả nước nhân ngày khai trường năm 1945.

a- Thư viết cho HS cả nước. Quan hệ: Những công dân và công dân  tương lai của đất nước (HS) với Chủ tịch nước (Bác).

b- Hoàn cảnh cụ thể: Nước ta vừa giành được độc lập và chuyển từ chế độ phong kiến thuộc địa sang chế độ dân chủ của một nước độc lập, rất cần có nhân tài, do đó, sự cố gắng học tập, nỗ lực phấn đấu của những công dân tương lai có ý nghĩa quan trọng cấp bách.

- Người viết (Bác Hồ) là người từng trải, có kinh nhgiệm từ nhiều nước văn minh trên thế giới, mong muốn cho đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu.

- HS: Lần đầu tiên được học trong nhà trường của nước nhà độc lập.

c- Nội dung bức thư phân tích ý nghĩa của ngày khai trường đầu tiên và động viên HS tích cực học tập, phấn đấu vì tương lai tươi sáng của đất nước.

d- Mục đích của bức thư: Cổ vũ tinh thần học tập của các HS vì tương lai đất nước.

e- Cách viết: Vừa là bức thư vừa là lời kêu gọi, phân tích ý nghĩa của nhà trường trong thời đại mới, đồng thời nêu lên mục đích cao cả của sự nghiệp cách mang, từ đó gợi mở để HS suy nghĩ về trách nhiệm thiêng liêng của mình. Lời văn giản dị, gần gũi với HS.

LÀM VĂN:                       VĂN BẢN

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Văn bản là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ dùng trong giao tiếp, được diễn đạt bằng hình thức nói hoặc viết.

2- Văn bản có các đặc điểm:

+ Có tính thống nhất về chủ đề.

+ Liên kết câu chặt chẽ, các ý được kết cấu mạch lạc và có trình tự.

+ Văn bản có dấu hiệu mở đầu và kết thúc.

+ Mỗi văn bản nhằm thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định.

3- Các loại văn bản gồm: văn bản theo phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (nhật kí, thư từ...); văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (Thơ, truyện...); văn bản theo phong cách ngôn ngữ khoa học (Bài luận, báo cáo khoa học...); văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính (Đơn, biên bản...); văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận (Lời kêu gọi, bình luận chính trị...); văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ báo chí (Bản tin, phóng sự...) (Gồm 6 loại, dựa trên mục đích giao tiếp và phạm vi sử dụng).

4- HS biết vận dụng kiến thức trên vào việc tạo lập văn bản.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Khái niệm, đặc điểm:

Câu 1, 2  và 5:

+ Văn bản (1) (SGK) được tạo ra trong sinh hoạt hàng ngày, nhằm khuyên nhủ nhau, đúc rút kinh nghiệm trong quan hệ xã hội. Dung lượng ngắn, súc tích. Nội dung đề cập tới vấn đề ảnh hưởng của môi trường đến đến phẩm chất con người. Mục đích: Khuyên nhủ nhau giữ gìn phẩm chất và xây dựng môi trường sống lành mạnh.

+ Văn bản (2) được tạo ra trong sinh hoạt văn nghệ (Hát, đọc...), nhằm bộc lộ tình cảm, tâm tư. Dung lượng vừa phải. Nội dung: Thân phận người con gái khi đi lấy chồng. Mục đích: Biểu cảm.

+ Văn bản (3) được tạo ra trong hoạt động chính trị, nhằm kêu gọi đồng bào toàn quốc đứng lên chống Pháp. Dung lượng dài hơn các văn bản trên. Nội dung: Kêu gọi nhân dân chống Pháp. Mục đích: Thuyết minh.

Câu 3- Tổ chức kết cấu của văn bản 2 và 3:

+ Văn bản 2: Hai dòng đầu và hai dòng sau có kết cấu tương đương, có ý nghĩa giá trị và hình thức gần giống nhau, đứng cạnh nhau, lặp lại mô hình cú pháp và cụm từ “Thân em”.

+ Văn bản 3: Có kết cấu ba phần.

- Mở đầu: Từ đầu đến “... làm nô lệ” (Nêu tóm tắt tình hình thực tế và lí do phải đứng dậy kháng chiến).

- Nội dung chính: Tiếp đến “... nhất định về dân tộc ta” (Lời kêu gọi các tầng lớp nhân dân và chiến sĩ, tự vệ, dân quân).

- Lời kết: Khẳng định niềm tin tất thắng.

Câu 4- Dấu hiệu mở đầu và kết thúc của văn bản 3.

+ Dấu hiệu mở đầu là câu hô gọi “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

+ Dấu hiệu kết thúc: là hai câu khẩu hiệu thể hiện niềm tin và lòng quyết tâm.

II- Các loại văn bản:

Câu 1-

Vấn đề và lĩnh vực của các văn bản:

Văn bản

Vấn đề

Lĩnh vực

Từ ngữ

Cách thức thể hiện

1

Ảnh hưởng giữa môi trường và phẩm chất, nhân cách con người”

Cuộc sống thường ngày

Thường ngày

Khẩu ngữ

2

Thân phận người con gái

Nghệ thuật

Nhiều hình ảnh, có sức gợi cảm

Biểu cảm

3

Kháng chiến chống Pháp

Chính trị

Lĩnh vực chính trị

Thuyết minh

Câu 2- So sánh  văn bản 2, 3 với một bài học thuộc môn khoa học khác (văn bản 4) và một đơn xin nghỉ học (5). Rút ra nhận xét:

(HS tự tìm một bài học bất kì của các môn nêu trên - thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học, và đơn xin nghỉ học- thuộc phong cách hành chính).

Văn bản

Phạm vi sử dụng

Mục đích giao tiếp

Lớp từ ngữ riêng

Kết cấu, trình bày

2

Nghệ thuật

Biểu thị tình cảm

Nghệ thuật

Hai phần, theo cảm xúc.

3

Chính trị

Kêu gọi

Chính trị

Ba phần, lô- gíc

4

Khoa học

Trình bày tri thức, hướng dẫn kĩ năng

Khoa học

Có các phần mục rõ ràng mạch lạc

5

Hành chính

Đề đạt nguyện vọng

Hành chính

Theo thể thức có sẵn

LÀM VĂN:

BÀI VIẾT SỐ 1: CẢM NGHĨ VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG    

                          HOẶC MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC

                     (Bài làm ở nhà)

YÊU CẦU: 

Đây là bài làm đầu tiên của năm học, HS cần lưu ý phát huy hết kiến thức và kĩ năng  đã được học ở THCS về văn biểu cảm. ở THPT, văn biểu cảm yêu cầu ở mức độ cao hơn: phố hợp với các thể văn khác.

Bài làm có thể tiến hành dựa trên các đề đã có sẵn trong SGK, nhưng cũng có thể dùng đề mới do GV yêu cầu.

Muốn làm bài tốt, HS cần xác định rõ yêu cầu của đề, lập dàn ý trước khi viết, trong đó phải thể hiện được rõ ràng và đầy đủ các ý chính.

Đối với bài viết phát biểu cảm nghĩ về một nhân vật hay tác phẩm văn học, HS cần nêu rõ ý nghĩa, nội dung và những đặc điểm về nghệ thuật của tác phẩm hay hình tượng nhân vật, dựa trên những ý cơ bản đó để phát biểu suy nghĩ và cảm xúc của mình.

Cần quan tâm đến chữ viết, chính tả và cách diễn đạt sao cho mạch lạc, dễ hiểu và sạch đẹp.

Đọc thêm các bài tham khảo trong SGK hoặc các sách tham khảo khác để gợi cảm hứng. Tránh chép lại hoặc bắt chước  một cách đơn giản.

TUẦN 2

ĐỌC VĂN:             CHIẾN THẮNG MTAO MXÂY

(Trích Đam Săn)

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Đam Săn là sử thi anh hùng của dân tộc Ê-đê (Tây Nguyên), nội dung kể về chiến công của người anh hùng Đam Săn, một tù trưởng hùng mạnh (Tiếng Ê-đê, Đam nghĩa là chàng). Chiến công chính của chàng là dám chống lại cả tục “nối dây”, chặt cả cây thần smuk, chiến thắng các tù trưởng thù địch, làm cho buôn làng ngày càng giàu mạnh. Cuối cùng, chàng đã chết trong rừng Sáp Đen vì đi cầu hôn Nữ thần Mặt Trời, thể hiện khát vọng phóng túng của một tù trưởng anh hùng. Đam San chết nhưng đã có cháu của chàng nối tiếp con đường của cậu mình.

Nội dung của đoạn trích kể về cuộc chiến của Đăm Săn với Mtao Mxây. Mtao Mxây cũng là một trong những tù trưởng giàu mạnh, y đã cướp vợ của Đam Săn. Nhưng trong cuộc chiến với tù trưởng Đam Săn, y đã thất bại vì không có sức mạnh và trí thông minh bằng Đam Săn, y cũng không được Ông Trời ủng hộ (Theo quan niệm thời xưa của người Ê-đê: người anh hùng luôn được Trời giúp đỡ).

Trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên của thị tộc đã thôi thúc Đam Săn chiến thắng Mtao Mxây.

HS hiểu được biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong tác phẩm và đoạn trích là so sánh và phóng đại theo cách riêng của sử thi.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1-Tóm tắt diễn biến của trận đánh giữa Đam Săn với Mtao Mxây:

Gợi ý: Chia đoạn trích thành các đoạn nhỏ, tìm chi tiết chính của mỗi đoạn rồi sắp xếp các ý theo trật tự trước khi kể tóm tắt.

Các tình tiết được sắp xếp theo trật tự gồm:

a- Đam Săn gọi Mtao Mxây xuống giao chiến.

b- Hiệp đấu thứ nhất Mtao Mxây không đâm trúng Đam Săn.

c- Hiệp đấu thứ hai, Đam Săn chiến thắng, cắt đầu Mtao Mxây.

d- Tôi tớ của Mtao Mxây đi theo Đam Săn, Đam Săn dẫn họ về làng và mở tiệc ăn mừng.

Bài tập 2- Phân tích những câu nói và hành động của đông đảo nô lệ nói lên cộng đồng Ê- đê đối với mục đích của cuộc chiến và người anh hùng...

Gợi ý:  

+ Khi Đam Săn gõ cửa từng nhà gọi: “Ơ tất cả tôi tớ bằng này! Các ngươi có đi với ta không ?”, dân làng nói: “Không đi sao được! Tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai?”; “Không đi sao được! Làng chúng tôi phía bắc đã mọc cỏ gấu, phía nam đã mọc cà hoang. Người nhà giàu cầm đầu cúng tôi nay đã không còn nữa”...

+ Nô lệ của Mtao Mxây “đông như bầy cà -tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối” đi theo Đam Săn. Tôi tớ của Mtao Mxây mang của cải về nhà Đam Săn “nhiều như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như bầy trai gái đi giếng làng cõng nước”....

Tôi tớ của Đam San thì đánh chiêng lên, tiếp khách, tiệc tùng linh đình, ăn mừng chiến thắng của Đam Săn...

+ Những lời nói và hành động của tôi tớ hai bên đã chứng tỏ thái độ tán thành, sự hưởng ứng của họ đối với những cuộc chiến nhằm sát nhập các bộ lạc bộ tộc. Đó là con đường hình thành các dân tộc, trong đó, vai trò của các tù trưởng anh hùng như Đam Săn có ý nghĩa quyết định.

Bài tập 3- Đoạn trích trên không chú ý đến việc miêu tả cảnh chết chóc của cuộc chiến (Chỉ có một tù trưởng là Mtao Mxây bị giết chết, bêu đầu), mà trái lại coi đó là một chiến công của người anh hùng, đoạn trích chỉ tập trung miêu tả cảnh ăn mừng chiến thắng của dân làng Đam Săn và việc tự nguyện đi theo chàng của dân làng thị tộc Mtao Mxây. Điều đó cho thấy thái độ và cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả dân gian đã nghiêng về việc bênh vực người anh hùng Đăm Săn, cũng như đã coi trọng xu thế tất yếu lịch sử phát triển cộng đồng.

Bài tập 4- Phân tích giá trị miêu tả và biểu cảm của những câu văn có lối  so sánh, phóng đại...

Gợi ý: 

+ Những câu văn so sánh:

“Thế là Đam Săn lại múa. Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc...”

+ Những câu văn phóng đại:

“Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung”.

+ Phân tích tác dụng: Những câu văn có sử dụng các biện pháp tu từ này góp phần tạo nên âm hưởng hùng tráng, vẻ đẹp rực rỡ trong nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật anh hùng và nghệ thuật tạo dựng khung cảnh hoành tráng trong sử thi.

Luyện tập - Vai trò của Ông Trời.

Gợi ý: Trong đoạn trích, sở dĩ Đam Săn chiến thắng Mtao Mxây còn có vai trò rất quan trọng của Ông Trời. Đây là nhân vật thần linh theo quan niệm của người Ê-đê thời xưa. Tuy nhiên, Ông Trời chỉ ủng hộ những người anh hùng, chiến đấu vì sự phát triển của bộ tộc như Đam Săn. Cho nên, vai trò của người anh hùng mới thật sự quyết định chiến thắng, cũng như quyết định con đường phát triển của lịch sử, họ là sự thống nhất giữa nguyện vọng cộng đồng với thần linh.

LÀM VĂN:                      VĂN BẢN

  (Tiếp theo)

Luyện tập:

Bài tập 1-(SGK)

Gợi ý: 

a, b- Đoạn văn gồm 5 câu, thống nhất về mặt chủ đề.

Các câu 4- 5 chứng minh cho chủ đề thể hiện trong câu 1 (ảnh hưởng của môi trường đối với cơ thể). Các câu 2, 3 liên kết ý khái quát với các dẫn chứng.

c- Đặt nhan đề cho đoạn văn: Có thể là Cơ thể với môi trường.

Bài tập 2-(SGK)

Gợi ý: 

+ Sắp xếp 1-3-4-5-2.

+ Nhan đề có thể là: Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Bài tập 3- Viết câu khác tiếp theo.

Tham khảo:

Trong lòng đất, nguồn nước đang bị ô nhiễm đến mức báo động. Trong không khí, lượng khí các-bon- níc thải ra quá mức cho phép cũng là nguyên nhân làm cho nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên. Bảo vệ môi trường sống là nhiệm vụ của chúng ta.

Đặt tên: Bảo vệ môi trường.

Bài tập 4- Đơn xin phép nghỉ học.

Gợi ý: 

+ Đơn gửi thầy (cô) giáo chủ nhiệm lớp, hoặc hiệu trưởng nhà trường.

Cương vị người viết: HS của lớp, của trường.

+ Mục đích viết đơn: Đề xuất nguyện vọng (nghỉ học).

+ Nội dung cơ bản của đơn: Trình bày lí do xin nghỉ học, thời gian, địa điểm nghỉ học và lời hứa.

+ Kết cấu của lá đơn:

Các mục chính

Ví dụ

Quốc hiệu

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Thời gian, địa điểm viết đơn

Hà Thanh, ngày 12 tháng 6 năm 2006

Tên đơn

Đơn xin phép nghỉ học

Người nhận

Kính gửi: Thầy chủ nhiệm lớp 10 A

Xưng danh, địa chỉ (nếu cần)

Tên em là: Nguyễn Thị Lan

Học sinh tổ 2, lớp 10 A.

Nội dung chính:

- Lí do xin nghỉ:

Hôm nay, gia đình em có công việc bận rộn, em phải ở nhà giúp đỡ gia đình, không thể tới trường được.

- Đề đạt nguyện vọng:

Em viết đơn này, xin phép thầy chủ nhiệm cho em được nghỉ học.

- Thời gian, địa điểm nghỉ học (nếu cần):

Thời gian: 2 ngày,12 và 13 tháng 6 năm 2006.

Lời hứa:

Em xin hứa sẽ ghi chép bài và học bài đầy đủ.

Lời cảm ơn:

Em xin thành thực cảm ơn!

Kí và ghi rõ họ tên:

Người viết đơn.

Học sinh

Nguyễn Thị Lan.

TUẦN 4 2

ĐỌC VĂN:

TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU, TRỌNG THỦY

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Nắm được nội dung, ý nghĩa của truyện, thông qua đó hiểu được nội dung ý nghĩa của thể loại truyền thuyết.

2- Nắm được đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm và của thể loại truyền thuyết: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố lịch sử với yếu tố tưởng tượng kỳ ảo.

3- Hiểu được bài học lịch sử và ý thức đề cao cảnh giác đối với âm mưu thâm độc của kẻ thù trong công cuộc giữ nước.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- 

a- Do đâu mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ. Kể về sự giúp đỡ thần kì đó. Dân gian muốn thể hiện thái độ đánh giá như thế nào qua các chi tiết này?

Gợi ý:   

+ An Dương Vương xây Loa thành, chế tạo lẫy nỏ để bảo vệ đất nước, đó là việc làm chính đáng, đúng với trách nhiệm của một ông vua đối với đất nước; công việc đó cũng hợp với nguyện vọng của nhân dân, do đó, An dương Vương được thần Kim Quy (Rùa Vàng) giúp đỡ (Rùa Vàng là hình tượng thần linh, phản ánh nguyện vọng của nhân dân).

+ Kể lại các chi tiết Rùa vàng giúp đỡ An Dương Vương: HS dựa theo truyện để kể lại. Chú ý có ba chi tiết: Rùa Vàng giúp An Dương Vương xây loa thành; giúp làm lẫy nỏ; và cuối cùng đưa nhà vua xuống Thủy Cung.

+ Yếu tố thần kì thể hiện thái độ đánh giá của nhân dân: Nhân dân đề cao công lao của An Dương Vương trong giai đoạn đầu của công cuộc dựng nước và giữ nước.

b- Sự mất cảnh giác của nhà vua thể hiện qua các chi tiết:

+ Không bao lâu (sau khi thua trận), Triệu Đà cầu hôn, An Dương Vương vô tình gả con gái là Mỵ Châu cho con trai Triệu Đà là Trọng Thủy.

+ Cả An dương Vương và Mị Châu tiếp tục mất cảnh giác để Trọng Thủy biết được bí mật nỏ thần.

+ Trọng Thủy ngầm làm một cái lẫy nỏ khác, thay vuốt Rùa Vàng mà vua và Mị Châu không hề hay biết.

+ Trọng Thủy nói dối là về phương Bắc thăm cha, trong lời dặn dò đã để lộ rõ âm mưu, nhưng vua và Mị Châu vẫn mất cảnh giác

+ Triệu Đà cho quân tiến đánh. An Dương Vương lại chủ quan khinh địch, cậy có nỏ thần nên thất bại, bỏ chạy.

+ Mỵ Châu tiếp tục mất cảnh giác, rứt lông ngỗng trong áo gấm làm dấu khiến Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng đuổi theo. Vua chạy đến bờ biển cùng đường.

c- Thái độ, tình cảm của nhân vật đối với An Dương Vương qua các chi tiết Rùa Vàng và việc nhà vua chém công chúa...: Đó là thái độ thiện cảm đối với An Dương Vương, nhân dân vì có tình cảm nên muốn giảm bớt tội cho nhà vua.

Bài tập 2- Bình luận về hai cách đánh giá đối với nhân vật Mị Châu:

Quan niệm 1: Mị Châu thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên nghĩa vụ đối với đất nước. Đây là quan niệm đúng. Có thể trách cứ Mị Châu ở tinh thần cảnh giác và trách nhiệm đối với quốc gia xã tắc chưa được nàng xử lí đúng mức. Tuy nhiên, cần hiểu tính lịch sử của vấn đề: qua câu chuyện, có thể thấy, vào thời bấy giờ, cả An Dương Vương lẫn Mị Châu còn chưa có được những kiến thức về chiến tranh gián điệp nên chưa có tinh thần cảnh giác một cách đầy đủ.

Quan niệm 2: Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí. Nàng không có tội. Quan niệm này có ý qui trách nhiệm chính cho An Dương Vương trong bi kịch mất nước. Cách qui trách nhiệm đó là đúng, nhưng, đánh giá về Mị Châu như vậy cũng chưa chính xác.

Tuy là phận gái, lấy chồng phải theo chồng, nhưng đồng thời nàng cũng phải có nghĩa vụ với quốc gia, xã tắc, nhất là phải có lòng trung với vua, có hiếu với cha...(theo quan niệm phong kiến). Có thể thấy, tất cả những phạm trù đạo đức này chưa có ở Mị Châu.

Bài tập 3- Tình cảm, thái độ của nhân dân qua chi tiết ngọc trai. Lời nhắn gửi...

Gợi ý:

+ Chi tiết ngọc trai thể hiện sự thương cảm, nhân dân muốn giải bớt nỗi oan tình cho Mị Châu.

+ Lời nhắn gửi đối với đời sau:  nêu lên một bài học cảnh giác.

Bài tập 4- Hình ảnh ngọc trai- giếng nước thể hiện cách đánh giá của nhân dân như thế nào đối với Trọng Thủy?

Gợi ý:

Nhân dân Việt Nam rất rộng lượng và tỉnh táo, công bằng trong việc đánh giá các nhân vật. Trọng Thuỷ là một nhân vật có mâu thuẫn: với tư cách là một tên gián điệp, một kẻ bội tình, hắn xứng đáng bịu lên án; song nhân dân Việt Nam vẫn thương cảm vì thấy Thủy cũng có tình, nhất là sau khi Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn vì thương nhớ Mị Châu. Vì vậy, chi tiết: “ngọc trai biển đông (thể hiện lòng trung thành, trong sáng của Mị Châu) đem về rửa vào giếng nước Trọng Thủy thì ngọc trai sẽ sáng lên” đã cho thấy cách đánh giá của nhân dân muốn phần nào cảm thương và tha thứ cho Trọng Thủy với tư cách là một chàng rể có tình người.

Bài tập 5- Cốt lõi lịch sử của câu chuyện này là: Vua Thục Phán An Dương Vương xây dựng thành Cổ Loa, tổ chức quân đội đánh giặc giỏi, chế tạo được vũ khí tinh xảo khiến cho quân giặc phương Bắc bị thất bại nhiều phen. Nhưng sau đó, nhà vua mất cảnh giác, bị mắc kế giảng hoà, vờ làm thông gia của Triệu Đà nên đã thất bại. Đất nước Âu- Lạc rơi vào cảnh tượng bi kịch.

Từ cốt lõi thực tế có tính sự thật lịc sử, nhân dân ta đã thần kì hoá bằng các hình tượng:

+ Rùa Vàng (tự xưng là sứ Thanh Giang) giúp nhà vua xây thành, làm lẫy nỏ để đánh giặc giữ nước.

+ Khi thất trận, chạy đến đường cùng, An Dương Vương lại được Rùa Vàng rẽ nước đưa xuống biển.

+ Máu Mỵ Châu hóa thành ngọc trai, ngọc trai biển đông rửa bằng nước giếng Trọng Thủy thì sáng hơn lên....

Luyện tập:

Câu 1- Có hai cách đánh giá Trọng Thủy:

+ Trọng Thuỷ là gián điệp. Tình cảm với Mị Châu là giả dối. Cách đánh giá như vậy không hoàn toàn đúng, vì nếu không có tình cảm gì với Mị Châu thì Thủy đã không tự tử.

+ Trọng Thủy- Mị Châu là mối tình tuyệt đẹp và nhân dân đã ca ngợi tình cảm thủy chung, trong sáng đó qua chi tiết ngọc trai- giếng nước. Quan niệm này cũng có phần không đúng, vì xuất phát điểm của quan hệ Trọng Thủy- Mị Châu là sự lợi dụng để làm gián điệp. Mối tình như vậy ít có cơ sở để ca ngợi.

+ Căn cứ vào chi tiết: Trọng Thủy thương nhớ Mỵ Châu khôn cùng, khi đi tắm tưởng thấy bóng dáng nàng, bèn nhảy xuống giếng mà chết. Đây là tấn bi kịch tình yêu của nhân vật Trọng Thủy, ta thấy Trọng Thuỷ là nhân vật có mâu thuẫn. Với nước Âu- Lạc, Thủy là tên gián điệp lợi hại, là kẻ đã lợi dụng tình yêu để đánh cắp bí mật của An Dương Vương, đã phản bội tình yêu trong sáng và chung thủy của Mỵ Châu. Song, chi tiết trên cho thấy Thủy vẫn là kẻ có tình, nên đã thương tiếc vợ không cùng mà tự tử.

Thái độ của dân gian đối với Trọng Thủy: vừa oán giận vừa độ lượng thương xót. Oán giận vì Thuỷ là kẻ gián điệp, là kẻ thù của quốc gia Âu- Lạc, lợi dụng tình yêu để lấy cắp nỏ thần; thương xót vì Thuỷ cũng là con người, có tình cảm, tình yêu và mâu thuẫn, bi kịch.

Câu 2- An Dương Vương tự tay chém đầu người con gái yêu duy nhất của mình, nhưng dân gian vẫn dựng đền và am thờ cả hai cha con họ ngay bên cạnh nhau, điều đó cho thấy, dân gian quan niệm về tình máu mủ ruột thịt vẫn thiêng liêng cho dẫu họ đã từng là kẻ thù. Đây cũng là cách giảm bớt nỗi oan  khiên cho hai cha con nhà vua An Dương Vương và Mị Châu.

Câu 3- Có thể kể đoạn thơ nổi tiếng của Tố Hữu:

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

LÀM VĂN:             LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN TỰ SỰ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Lập dàn ý cho bài văn tự sự là nêu rõ những nội dung chính của câu chuyện mà mình sẽ kể lại, thuật lại, sắp xếp các ý theo trình tự trước sau sao cho bộc lộ được ý tưởng, chủ đề của chuyện.

2- HS biết cách lập dàn ý và rèn luyện để có thói quen lập dàn ý trước khi viết văn bản kể chuyện.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện:

Bài tập 1-

Trong phần trích trên, nhà văn Nguyên Ngọc đã nói về quá trình hình thành ý tưởng và cốt truyện của Rừng xà nu.

Bài tập 2- Có thể thấy trong lời kể của Nguyên Ngọc những bài học sau đây:

+ Trước khi viết truyện hoặc kể chuyện (bằng miệng), có thể dựa vào một câu chuyện có thật ngoài đời mà mình đã được chứng kiến để làm chỗ dựa.

+ Phải hình dung ý tưởng, xây dựng cốt truyện, từ đó mới có thể hình dung và sáng tạo được các nhân vật, tình tiết trong chuyện kể.

II- Lập dàn ý:

Bài tập 1- Lập dàn ý cho một trong hai đoạn truyện “Hậu Tắt đèn”.

Gợi ý: HS có thể chọn một trong hai cách như hướng dẫn trong SGK. Cũng có thể tìm một hướng khác cho câu chuyện.

Tham khảo:

Cách 1) Có thể lập dàn ý gồm các ý chính sau:

- Chị Dậu chạy ra khỏi nhà quan cụ trong đêm tối mịt mùng, nhưng không có cách nào thoát ra được.

- Sáng hôm sau, trong lúc ra chợ, chị gặp một đoàn người biểu tình. Hỏi ra mới biết đó là đoàn người dân nghèo tập hợp nhau lại để chống sưu cao thuế nặng.

- Hôm sau nữa, chị lại đi chợ, thấy truyền đơn rải đầy đường. Bọn lính Pháp đang đuổi theo một người đàn bà trùm khăn xanh. Thấy nguy, chị Dậu bèn đưa nón cho chị. Chị ấy thoát hiểm. Hai người kết làm chị em. Tên người đàn bà kia là Hải.

- Chị Hải cho chị Dậu biết về tình hình hoạt động của Việt Minh và lí tưởng đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng dân nghèo của họ. Chị Dậu rất thích Việt Minh và ước sao Việt Minh sớm về giải phóng gia đình chị.

- Nhờ chị Hải giới thiệu, chị Dậu được kết nạp vào tổ chức Việt Minh, hoạt động bí mật. Những khó khăn của gia đình chị được tổ chức phân công nhau giúp đỡ.

- Chị Dậu bị quan cụ và bọn mật thám theo dõi ráo riết. Không bắt được chị, chúng bắt anh Dậu và các con chị.

- Chị Dậu được phân công trực tiếp chỉ huy các cuộc biểu tình, rải truyền đơn chống thực dân, đế quốc, tổ chức phá kho thóc của Nhật để cứu đói cho dân nghèo.

- Cách mạng tháng Tám bùng nổ, chị Dậu là người tập hợp và chỉ huy nhân dân vùng quê nổi dậy, bắt sống toàn bộ bọn quan lại, cường hào, cứu anh Dậu và các con chị.

Cách 2) Có thể dựa theo ý tưởng sau:

- Chị Dậu chạy ra đêm tối mịt mùng, nhưng không biết đi đâu về đâu?

- Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Chị Dậu cùng đoàn người kéo nhau đi biểu tình cướp chính quyền, phá kho thóc của Nhật. Gia đình chị được cách mạng cấp thóc cứu đói. Anh Hà, người của Việt Minh thường xuyên quan tâm đến anh Dậu và gia đình chị.

- Kháng chiến bùng nổ. Quân ta chiến đấu dũng cảm, nhưng, vì thế yếu, phải rút vào chiến tranh du kích.

- Anh Hà ở lại hoạt động bí mật. Anh bị địch đuổi bắt, chúng bắn anh bị thương. Chị Dậu che chở cho anh và cùng với một người hàng xóm, giấu anh trong một căn hầm bí mật.

- Anh Hà khỏi lành vết thương, phải ra đi làm nhiệm vụ mới. Nhờ có anh, chị Dậu và những người nông nhân trong làng mới hiểu và hi vọng vào ngày toàn thắng của quân kháng chiến.

Bài tập 2- Cách lập dàn ý cho bài văn tự sự:

+ Mở bài: Giới thiệu câu chuyện sẽ kể (Thời gian, địa điểm, nhân vật...).

+ Thân bài:

- Đoạn 1: Nhân vật, tình tiết, sự kiện (Sẽ kể từ đâu đến đâu? Gồm những tình tiết gì?...).

- Đoạn 2: Tiếp theo. Những diễn biến của các tình tiết hình thành mâu thuẫn, xung đột, phát triển đến cao trào (thắt nút).

- Đoạn 3: Mở nút. Mâu thuẫn phát triển đến mức buộc phải giải quyết theo một hướng nào đó, dẫn đến kết thúc chuyện.

+ Kết bài: Có thể nêu suy nghĩ, cảm xúc của bản thân về câu chuyện vừa kể.

Luyện tập:

Bài tập 1- HS lập dàn ý theo hướng dẫn:

- Chọn câu chuyện của một người bạn hay của chính mình làm cơ sở để tiếp tục sáng tạo, hư cấu...

- Trước khi viết, phải hình dung ý tưởng của truyện để định hướng câu chuyện ngay từ đầu, tránh lang thang, tản mạn, không có chủ đề...

- Hình dung cốt truyện gồm mấy ý, mấy đoạn?

- Dựa trên cốt truyện để hình dung các nhân vật, với những việc làm, cử chỉ, ngôn ngữ... biểu hiện cá tính và gây ra chuyện để kể (mâu thuẫn). Chuyện để kể là những sai lầm vừa nghiêm trọng nhưng chú ý nó phải có tính phổ biến: như sai lầm vì sa vào các trò chơi điện tử, sai lầm vì chép lại bài văn mẫu.

- Cần suy nghĩ để có cách kết thúc hợp lí, giải quyết được các mâu thuẫn mà có thể gợi ra những suy nghĩ mới cho người đọc. Ví dụ: một việc làm nào đó của bạn, khiến mình bất ngờ phải thay đổi cách hiểu; một sự trả giá đau xót khiến mình phải hối hận v.v...

Bài tập 2- Lập dàn ý cho một bài văn viết về câu chuyện xảy ra trong cuộc sống.

Gợi ý: HS tự tìm một câu chuyện trong sinh hoạt hằng ngày. Nêu dự kiến sẽ kể câu chuyện ấy như thế nào? Các đoạn, các ý chính gồm những gì? v.v...

TUẦN 5 2

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- I-li-át Ô-đi-xê là hai tập sử thi của Hô-me-rơ (Hi-lạp) kể lại cuộc chiến tranh trường kì của liên quân, đứng đầu là A-ga-nem-nông, đánh hạ thành Tơ-roa (I-li-át) và cuộc hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ (Ô-đi-xê).

Đoạn trích thuộc khúc ca XVIII trong Ô-đi-xê. Qua đoạn trích, tác giả đã khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Pê-nê-lốp và của Uy-lít-xơ.

2- Rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật, kể chuyện sáng tạo...

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

LÀM VĂN:                  TRẢ BÀI VIẾT SỐ 1

A- NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý

1- Đề cho phép HS tự chọn một trong các đề thuộc văn bản biểu cảm, hoặc làm theo đề do GV yêu cầu. HS phải tìm hiểu và giải quyết được các yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng mà đề văn đặt ra.

2- Qua tiết trả bài, HS phải đánh giá được những ưu điểm và nhược điểm của bài viết của mình về các phương diện: hệ thống các ý, kỹ năng diễn đạt, cách trình bày v.v... Quan trọng nhất là bài viết phải thể hiện được suy nghĩ và cảm xúc riêng.

 B- GỢI Ý HS TỰ ĐÁNH GIÁ

1- Phân tích lại yêu cầu của đề. Cần trả lời các câu hỏi sau:

a- Bài viết biểu cảm trước đối tượng gì? (Hiện tượng nào trong cuộc sống? Hay tác phẩm, nhân vật văn học nào?).

b- Cảm xúc và suy nghĩ chủ đạo trong bài viết của anh (chị) là gì? Cảm xúc ấy có mới không? Đã làm anh (chị) xúc động chưa? Có thể làm cho người khác xúc động được không?

c- Bài viết diễn đạt mạch lạc các ý chưa? Có lộ rõ được cảm xúc hay không? đã sử dụng các biện pháp nghệ thuạt nào? ...

d- Phạm vi tư liệu  (Kiến thức, tác phẩm, kiến thức đời sống ... lấy ở đâu, trong phạm vi nào?) v.v...

2- Tự đánh giá và sửa chữa sau khi trả bài:

+ Về nội dung: Bài viết đã đáp ứng được những yêu cầu nào? Nội dung nào còn thiếu? Nếu viết lại thì sẽ bổ sung những gì?

+ Về kỹ năng viết: Hệ thống ý, bố cục, lời văn, chính tả, từ ngữ, ngữ pháp ... có ưu điểm gì và còn mắc phải những lỗi nào?

+ Đánh dấu những sai sót và sửa các lỗi trong bài làm của mình.

TUẦN 6 2

ĐỌC VĂN:                            RA-MA BUỘC TỘI

                                                (Trích Ra-ma-ya-na)                        

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Ra-ma-ya-na là một bộ sử thi đồ sộ của ấn Độ khoảng thế kỉ thứ III trước CN. Tác phẩm kể về những kì tích của hoàng tử Ra-ma, con vua Đa-xa-ra-tha.

Đoạn trích kể lại những chi tiết sau khi chiến thắng quỷ vương Ra-va-na, cứu Xi-ta, nhưng vì danh dự và lòng ghen tuông, Ra-ma đã nghi ngờ sự trong sạch của Xi-ta và tuyên bố ruồng bỏ nàng. Xi-ta đã bảo vệ danh dự bằng cách nhảy vào dàn hoả (theo cách tự thanh minh của người ấn Độ cổ).

Đoạn trích miêu tả thái độ kiên quyết bảo vệ danh dự của các nhân vật Xi-ta và Ra-ma, cho thấy lòng tự trọng và sự đề cao danh dự của người ấn Độ cổ đại.

2- Nắm được nghệ thuật trần thuật và cách thể hiện tâm lý nhân vật của tác giả qua đoạn trích.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- (SGK)

Gợi ý:

+ Sau chiến thắng, Ra-ma gặp lại Xi-ta trước sự chứng kiến của anh em, bạn hữu, và đông đảo người dân, cả loài quỉ Rắc-sa-xa, lẫn loài khỉ Va-na-ra  (Đáp án d).

+ Hoàn cảnh ấy có tác động đến tâm trạng, ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma và Xi-ta. Ra-ma mất bình tĩnh và thấy danh dự bị tổn thương nặng nề khi người vợ xinh đẹp và yêu quí của mình bị quỉ vương Ra-va-na bắt cóc và dù sao cũng đã là “vật sở hữu” trong tay quỉ vương. Chàng buộc phải nói ra những lời ghen tuông của một người tầm thường, và buộc phải ruồng bỏ Xi-ta để bảo vệ danh dự của mình và dòng họ cao quí của mình. Còn Xi-ta thì trước mặt mọi người, buộc phải chứng minh sự trong sáng và bảo vệ danh dự của nàng. Tóm lại, do hoàn cảnh đặc biệt, cả Ra-ma và Xi-ta đều bị buộc vào tình thế phải bảo vệ danh dự trước đông đảo những người chứng kiến.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

+ Theo lời Ra-ma, chàng diệt quỉ vương cứu Xi-ta vì danh dự bị xúc phạm (Đáp án: a).

+ Chàng ruồng bỏ Xi-ta cũng vì lí do danh dự (Đáp án: a).

+ Phân tích những từ ngữ lặp lại nhiều lần: Ra-ma nhiều lần nói đến danh dự bị xúc phạm.

+ Thái độ của Ra- ma khi Xi-ta bước lên giàn hỏa: “Ra-ma vẫn ngồi, mắt dán xuống đất. Xi-ta lượn quan rồi bước lên giàn lửa...”. Chi tiết này cho thấy Ra-ma vẫn để danh dự và sự ghen tuông thắng thế. Chính tình yêu của chàng bị mâu thuẫn gay gắt với danh dự làm nảy sinh lòng ghen tuông và hành động ruồng bỏ.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:

+ Trong lời đáp của mình, Xi-ta đã nhấn mạnh rất rõ ràng sự phân biệt giữă tư cách con người đức hạnh với loại phụ nữ tầm thường thấp kém (Đoạn: “Cớ sao... như thế đâu có phải?”). Nàng nhấn mạnh tình yêu, danh dự, lòng trung thành, cũng như sự xuất thân cao quí của nàng (nàng là con của Thần Đất).

+ Xi-ta cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa số mệnh và trái tim: việc quỉ vương Ra-va-na đã đụng tới nàng khi nàng đang bị chết ngất đi- đó là chuyện của số mệnh, không phụ thuộc vào ý muốn của nàng, còn trái tim, tình yêu của Xi-ta vẫn luôn dành cho Ra-ma, đó mới là tình yêu đích thực.

+ Thần lửa A-nhi (Tiếng Phạn: Agni) trong thần thoại ấn Độ là một vị thần rất quan trọng, do Cha Trời và Mẹ Đất sinh ra, cai quản phần đất (Bầu trời do Thần Mặt Trời cai quản, khoảng không do Thần Gió cai quản).

Trong quan niệm của người ấn Độ, lửa là trong sạch nhất, lửa có thể thiêu cháy tất cả nhưng vẫn giữ được mình trong sạch. Chỉ có Thần Lửa mới có thể chứng giám cho sự trong sạch của con người.

Bài tập 4- (SGK)

a- Thái độ của công chúng khi thấy nàng Xi-ta bước lên giàn lửa?

Gợi ý:

+ Khi thấy Gia-na-ki bước vào dàn hỏa: “Ai nấy, già cũng như trẻ đau lòng đứt ruột nhìn Gia-na-ki đứng trong giàn hỏa”, “các phụ nữ bật ra tiếng khóc thảm thương, cả loài quỉ Rắc-sa-xa, lẫn loài khỉ Va-na-ra cũng cùng kêu khóc vang trời”...

+ Ý nghĩa của tiếng khóc ấy là sự đồng cảm lớn lao, nhân dân ấn Độ muốn thương cảm và bênh vực nàng, muốn bảo vệ nhân cách trong sạch của nàng, cho dẫu trên phương diện thể xác nàng có bị quỉ vương hãm hại.

b- Cảm nghĩ của bản thân:

+ Thương cảm đối với nàng Xi-ta, vì danh dự và tấm lòng trong sáng của nàng bị đặt vào trong hoàn cảnh khó có thẻ thanh minh, buộc phải nhờ đến Thần Lửa mới có thể cứu giúp được.

+ Trân trọng và cảm phục vẻ đẹp tâm hồn của nàng Xi-ta, cũng là vẻ đẹp của tâm hồn người phụ nữ ấn Độ trong sử thi.

Luyện tập:

HS đóng vai các nhân vật trong đoạn trích, trình diễn tại lớp, dưới sự hướng dẫn của GV.

Để các màn trình diễn có chất lượng, HS nên phân công soạn thảo kịch bản, có hướng dẫn ngôn ngữ, động tác, hình dung bài trí sân khấu... với sự hướng dẫn của GV.

LÀM VĂN:         

CHỌN SỰ VIỆC, CHI TIẾT TIÊU BIỂU TRONG B ÀI VĂN TỰ SỰ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Lựa chọn các sự việc và chi tiết tiêu biểu là công việc rất cần thiết, vì nhờ có các sự việc, chi tiết ấy ý nghĩa của văn bản tự sự mới có thể nổi bật. Chúng có tác dụng tô đậm tính cách nhân vật và tập trung thể hiện chủ đề của câu chuyện.

2- Muốn lựa chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu, phải biết quan sát, so sánh, tưởng tượng..., xác định rõ chủ đích của văn bản để tìm ra sự việc và chi tiết có vai trò chính, loại bỏ những chi tiết thừa, vô nghĩa trong việc biểu hiện tư tưởng, chủ đề.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Đọc văn bản: Hòn đá xù xì (SGK).

Gợi ý:

a- Nếu bỏ sự việc “hòn đá xấu xí được phát hiện” thì truyện sẽ không có vấn đề, tức không có chuyện gì để kể. ý nghĩa của câu chuyện sẽ không còn, hoặc bị đổi khác: giá trị và vẻ đẹp cao quí của hòn đá xù xì sẽ không còn như trong truyện nữa.

b- Rút ra bài học về cách lựa chọn: Phải tìm được những sự vật và chi tiết quan trọng nhất, có tác dụng làm nổi bật chủ đề, tô đậm tính cách nhân vật và nhấn mạnh cảm xúc của người viết.

Bài tập 2- Đọc đoạn Uy-lít-xơ trở về...

Gợi ý:

+ Trong đoạn trích, Hô-me-rơ kể chuyện nàng Pê-nê-lốp thử thách chồng bằng bí mật chiếc giường và nhận ra chồng mình một cách thông minh và cảm động.

+ Trong phần cuối đoạn trích có một sự việc quan trọng: Hô-me-rơ đã tưởng tượng ra cảnh “người đắm tàu” để so sánh với tâm trạng của Pê-nê-lốp khi nhận ra chồng mình. Đây là một thành công trong nghệ thuật kể chuyện sử thi của Hô-me-rơ, vì chi tiết này lột tả được tâm trạng, bản chất của nàng Pê-nê-lốp, gây được cảm xúc mạnh mẽ cho người đọc.

TUẦN 7 2

ĐỌC VĂN:                       TẤM CÁM                                     

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Hiểu được cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, ước mơ “ở hiền gặp lành”, thấy được tinh thần lạc quan và nhân đạo của nhân dân thể hiện trong truyện.

2- Nắm được nghệ thuật sử dụng yếu tố kì ảo và lối kể chuyện hấp dẫn tạo nên nghệ thuật đặc sắc của truyện Tấm Cám nói riêng và truyện cổ tích thần kì nói chung.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Câu hỏi - Truyện Tấm Cám có thể chia thành mấy phần? Tóm tắt nội dung của mỗi phần (Câu hỏi không có trong SGK).

Gợi ý:

Văn bản Tấm Cám gồm 3 phần chính:

a- Phần đầu: từ đầu đến “...ngày nọ qua ngày kia” (Giới thiệu gia cảnh của Tấm- Phần này gọi là Trình bày).

b- Phần thứ hai: tiếp đến “...không hề nhúng tay vào việc gì” (Hoàn cảnh sống hàng ngày của Tấm. Tấm luôn bị mẹ con Cám ức hiếp; Bụt giúp đỡ cô- Phần này gọi là Thắt nút).

c- Phần thứ ba: tiếp đến “...ở đâu ra mà đẹp thế” (Tấm ở hiền gặp lành, trở thành hoàng hậu- Phần này gọi là Phát triển).

d- Phần thứ tư: tiếp đến“...là Tấm để bà cụ” (Mẹ con Cám ghen ghét, giết Tấm, đưa em vào thay chị. Tấm nhiều lần đổi lốt thành kiếp chim vàng anh,  cây xoan đào, khung cửi, và cuối cùng là quả thị- Phần này gọi là Cao trào).

e- Phần kết: còn lại (Tấm trở lại thành người, gặp được nhà vua. Mẹ con Cám phải trả giá vì tội lỗi và lòng ganh ghét - Phần này gọi là Mở nút).

Bài tập 1- Phân tích diễn biến của truyện để thấy mâu thuẫn dẫn đến xung đột giữa Tấm và mẹ con Cám.

Gợi ý:

Diễn biến của mâu thuẫn dẫn đến xung đột:

+ Xuất xứ xung đột: quan hệ dì ghẻ- con chồng; quan hệ giữa kẻ mồ côi với bà mẹ ghẻ và em cùng cha khác mẹ.

+ Quá trình mâu thuẫn và xung đột thể hiện qua các tình tiết sau:

- Tình tiết mâu thuẫn 1: Tấm và Cám cùng đi bắt tép, Tấm bị lừa trút hết giỏ tép. Đây là mâu thuẫn trực tiếp giữa Tấm và Cám, tuy đằng sau Cám là dì ghẻ, nhưng mâu thuẫn này mới chỉ phản ánh quan hệ trong gia đình.

- Tình tiết 2: Mẹ con Cám ăn thịt cá Bống. Mâu thuẫn bị đẩy lên thành quan hệ giữa kẻ ác (mẹ con Cám) và người thiện (Tấm), tuy nhiên vẫn mới ở mức độ gia đình.

- Tình tiết 3: Mẹ con Cám ăn mặc đẹp để đi xem hội, nhưng dì ghẻ lại trộn thóc với gạo bắt Tấm ở nhà nhặt kì hết mới được đi. Đây là mâu thuẫn bị đẩy đến mức cao hơn, giữa một bên là người hiền, bị áp bức, với một bên là kẻ cường hào, độc ác; song mâu thuẫn vẫn mới trong khuôn khổ gia đình.

- Tình tiết 4: Tấm trở thành vợ vua, về nhà giỗ bố bị mẹ con Cám lừa chặt cây cau, giết chết, rồi cho Cám vào cung thay chị. Đây là mâu thuẫn  đã đẩy đến đỉnh cao thành quan hệ giữa hai bên thù địch: một bên là những kẻ tham lam độc ác với một bên là người hiền thục, nết na. Hai bên thù địch đó không phải chỉ đóng khung trong phạm vi gia đình mà được đẩy tới mức độ có ý nghĩa xã hội (Vì Tấm không còn là người con trong gia đình đó nữa, mà đã trở thành vợ vua).

- Tình tiết 5: Tấm hóa thành chim Vàng Anh, vạch mặt Cám. chim được vua yêu. Mẹ con Cám lại làm thịt chim để ăn, đổ lông ra vườn. Xung đột tiếp tục leo thang: mẹ con Cám trở thành kẻ thù giết Tấm lần thứ hai.

- Tình tiết 6: Chỗ lông chim mọc lên hai cây soan đào tươi tốt và xinh đẹp. Nhà vua yêu thích cây xoan, mắc võng ra đấy ngủ, không hề để ý đến Cám.  Mẹ con Cám lại lừa chặt cây xoan làm khung cửi. Hai mẹ con nhà Cám trở thành kẻ thù giết Tấm lần thứ ba.

- Tình tiết 7: Khung cửi dệt vải lại kêu lên “kẽo cà kẽo kẹt...” để tố cáo Cám. Mẹ con Cám lại đem đốt khung cửi và đổ tro thật xa. Xung đột cuối cùng: Mẹ con Cám tận diệt đối với Tấm .

- Tình tiết 8: Từ nơi xa, Tấm hóa thành cây Thị, hoá thân vào quả thị để trở lại làm người. Đây là tình tiết cuối cùng, nhờ có phép lạ, Tấm trở về trả thù mẹ con nhà Cám.

+ Như vậy, mâu thuẫn hình thành từ quan hệ dì ghẻ- con chồng, một vấn đề đạo đức nhức nhối trong xã hội phong kiến. Dần dần, mâu thuẫn đó phát triển, vượt khỏi khuôn khổ một gia đình để mang ý nghĩa của xã hội, phản ánh mâu thuẫn giữa người tốt và kẻ xâu, thế lực của cái thiện với thế lực của cái ác. Mâu thuẫn đó đã trở thành xung đột, không thể dung hoà, và cuối cùng, cái thiện đã chiến thắng.

Bài tập 2- Phân tích từng hình thức biến hóa của Tấm. Ý nghĩa của mỗi hình thức biến hóa?

Gợi ý:

+ Hình thức biến hoá thứ nhất: Tấm chết hóa thành con chim Vàng Anh.

ý nghĩa: Chim Vàng Anh (Hoàng Oanh) là tượng trưng cho tình yêu. Tấm hóa thành chim Vàng Anh để thể hiện tình yêu đối với nhà vua.

+ Hình thức biến hóa thứ hai: Lông chim mọc thành hai cây xoan đào tươi tốt. Sau đó bị mẹ con Cám chặt làm khung cửi.

ý nghĩa: Cây xoan đào xinh đẹp, tươi tốt là để mắc võng, ru cho nhà vua ngủ, đây cũng là hình thức thể hiện tình yêu.

Khung cửi dệt vải không phải là ý nguyện của Tấm, nhưng khung cửi có thể kêu lên những tiếng “kẽo kẹt...” để đấu tranh với Cám, cho thấy Tấm không ngừng tranh đấu.

+ Hình thức biến hóa thứ ba: Khung cửi bị đốt, đổ tro thật xa. Tro hoá thành cây thị, ra một quả- hóa thân cuối cùng của Tấm.

ý nghĩa: Quả thị hiền lành, giản dị, nhưng thơm tho, gần gũi với người bình dân, do đó có thể tượng trưng cho vẻ đẹp dân dã của cô Tấm.

Bài tập 3- Bản chất mâu thuẫn và xung đột trong truyện?

Gợi ý: Mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con Cám trước hết là mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng, một vấn đề của đạo đức xã hội thời phong kiến. Song, qua câu chuyện đó, tác giả dân gian còn phản ánh sự xung đột giữa cái thiệncái ác, cái thật và cái giả.... Tấm là đại diện cho cái thiện, sự ngay thật và siêng năng cần cù. Mẹ con Cám là hiện thân của cái ác, sự giả dối và lười biếng.... Chính vì vậy mà mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng trở thành vấn đề xung đột giữa các thế lực thiện và ác. Ngoài ra, Tấm và mẹ con Cám còn có mối quan hệ giữa người bị áp bức với kẻ áp bức. Cho nên, cuộc đấu tranh của những con người nhỏ bé, bất hạnh như cô Tấm là cuộc đấu tranh cho công bằng chính nghĩa.

Luyện tập:

Căn cứ vào định nghĩa truyện cổ tích, hãy tìm trong truyện Tấm Cám những dẫn chứng để làm rõ đặc trưng của truyện cổ tích thần kì.

Gợi ý:

+ Truyện cổ tích là “những tác phẩm tự sự dân gian mà cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ định, kể về số phận con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo, lạc quan của nhân dân lao động”.

Truyện cổ tích thần kì có các đặc trưng là “có sự tham gia của các yếu tố thần kì trong sự phát triển của tuyến truyện” (Theo SGK).

+ Như vậy, có thể rút ra đặc trưng của truyện cổ tích thần kì là (kèm theo chứng minh):

- Truyện do hư cấu (chứ không cần có nguồn gốc từ sự thực lịch sử như truyền thuyết). Chẳng hạn, truyện Tấm Cám không bắt nguồn từ sự thực lịch sử nào (như truyện An Dương Vương), mà chỉ do nhân dân hư cấu mà thành.

- Kể về số phận của những người bình thường trong xã hội (tức nhân vật trong truyện không phải thần linh, hay các nhân vật lịch sử). Ví dụ: trong truyện Tấm Cám, nhân vật chính là cô Tấm, không phải thần linh hay nhân vật lịch sử mà có xuất thân bình thường.

- Truyện thể hiện tinh thần nhân đạo, lạc quan của nhân dân lao động (tức là biểu hiện của lòng thương người, đứng về phía cái thiện, bênh vực và đấu tranh cho cái thiện thắng cái ác; thể hiện niềm tin, niềm mơ ước của nhân dân lao động về sự thắng lợi cuối cùng của cái thiện).

Chứng minh cho tinh thần nhân đạo: truyện Tấm Cám thể hiện sự thương cảm đối với những con người nhỏ bé, yếu đuối như cô Tấm, một cô bé mồ côi. Truyện còn thể hiện cuộc đấu tranh giữa cái thiện với cái ác, tác giả đứng về phía cái thiện (cô Tấm), bênh vực và đấu tranh cho cái thiện thắng lợi.

Chứng minh cho tinh thần lạc quan: Tấm Cám thể hiện giấc mơ về hạnh phúc, công bằng, cũng như thể hiện niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện đối với cái ác.

- Có sự tham gia của các yếu tố thần kì vào sự phát triển của truyện. Các yếu tố thần kì gồm: ông Bụt, sự hóa thân của cô Tấm... Đây là bộ phận không thể thiếu trong câu chuyện. Ví dụ: cứ mỗi lần Tấm khổ cực quá mức (khóc), Bụt lại hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?”, rồi Bụt lại hướng dẫn Tấm phải làm những gì? Việc Tấm chết hoá thành con chim vàng anh, rồi thành cây xoan, quả thị v.v... đều là những tình tiết rất quan trọng, không chỉ có giá trị về nghệ thuật mà còn có tính nội dung...

LÀM VĂN:    MIÊU TẢ VÀ BIỂU CẢM TRONG VĂN TỰ SỰ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Trong văn bản tự sự, các yếu tố miêu tả và biểu cảm có vai trò rất quan trọng, giúp cho văn tự sự được sinh động và có chiều sâu của cảm xúc.

Muốn miêu tả và biểu cảm có hiệu quả cao trong văn bản tự sự, cần có năng lực quan sát, liên tưởng, tưởng tượng...

2- HS cần rèn luyện các kĩ năng để viết được các văn bản tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Phần ôn tập:

Câu hỏi 1- Mục đích, ý nghĩa của việc tóm tắt chuyện của nhân vật chính.

Gợi ý: 

+ Mục đích: Tóm tắt chuyện của nhân vật chính là viết hoặc kể lại một cách ngắn gọn những sự việc cơ bản xảy ra với các nhân vật đó nhằm giúp người đọc, người nghe hiểu được nội dung chính của văn bản xung quanh nhân vật chính.

+ Ý nghĩa: Tóm tắt là một kỹ năng rất quan trọng và cần thiết trong quá trình lĩnh hội tác phẩm. Nó giúp người đọc (truyện) biết nhìn một cách khái quát, nắm bắt được cốt lõi của tác phẩm, hình dung được sơ bộ về cuộc đời, số phận, tính cách... của nhân vật chính. Đây cũng là bước đầu tiên trước khi đi vào phân tích nhân vật, khám phá nội dung và nghệ thuật tác phẩm văn học.

Câu hỏi 2- Đọc hai đoạn văn (SGK) và cho biết:

a- Hai đoạn văn trên có gì giống và khác nhau?

b- Rút ra cách tóm tắt chuyện của nhân vật chính.

Gợi ý: 

a- Sự giống và khác nhau giữa hai đoạn văn:

+ Giống nhau: Cùng tóm tắt chuyện của An Dương Vương và Mỵ Châu, Trọng Thủy.

+ Khác nhau: Đoạn 1) Tóm tắt những sự việc cơ bản xảy ra với An Dương Vương; Đoạn 2) Tóm tắt những sự việc cơ bản xảy ra với Mỵ Châu.

b- Rút ra cách tóm tắt chuyện của nhân vật chính: Phải biết bám sát các sự việc xảy ra từ đầu đến cuối câu chuyện theo diễn biến số phận hoặc cuộc đời của nhân vật; phải nêu được một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ các sự việc, tình tiết chính, đảm bảo trung thành với nguyên bản.

Luyện tập:

Bài tập 1- Thế nào là miêu tả, biểu cảm?

Gợi ý: 

HS nhớ lại kiến thức đã học ở THCS về miêu tả và biểu cảm. Cách trả lời có thể tự do, không lệ thuộc vào SGK hoặc các tài liệu hướng dẫn cụ thể khác. Nên trả lời theo cách nêu những hiểu biết của mình về các kiểu văn bản nói trên.

Tham khảo:

a- Miêu tả là tái hiện sự vật, làm cho sự vật hiện lên sinh động với những chi tiết về hình dáng, kích thước, khối lượng, màu sắc, âm thanh... như nó vốn có trong cuộc sống, người đọc (người nghe) như được nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy... đối tượng miêu tả một cách cụ thể, sinh động.

b- Biểu cảm là biểu lộ cảm xúc, tư tưởng tình cảm, thái độ... của mình trước một đối tượng nhất định (như cảnh vật, con người, những vấn đề trong cuộc sống hay những hình tượng nghệ thuật...).

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý: 

Miêu tả trong văn bản tự sự chỉ là yếu tố phụ, là phương tiện giúp cho câu chuyện diễn ra được sinh động, miêu tả không phải mục đích chính của văn bản tự sự.

Biểu cảm trong văn tự sự cũng là yếu tố phụ, không phải mục đích chính, tuy nhiên, nó cũng là phương tiện giúp cho văn bản tự sự có được chiều sâu của cảm xúc, tránh được khô khan.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý: 

+ Để đánh giá hiệu quả của yếu tố miêu tả trong văn bản tự sự, có thể dựa trên những tiêu chuẩn sau đây:

a- Yếu tố đó có miêu tả được sinh động các đối tượng (nhân vật, cảnh vật, tâm trạng...) hay không?

b- Yếu tố đó có giúp cho việc kể chuyện được hấp dẫn hay không? Có tập trung vào việc thể hiện hình tượng câu chuyện hay không?

+ Để đánh giá hiệu quả của yếu tố biểu cảm trong văn bản tự sự, có thể dựa trên những tiêu chuẩn sau đây:

a- Yếu tố biểu cảm có gây xúc động, gợi suy nghĩ đối với bạn đọc hay không?

b- Yếu tố biểu cảm đó có giúp cho việc kể chuyện thêm sinh động và có hồn hay không?

Bài tập 4- (SGK)

Gợi ý: 

Đoạn trích văn bản trong SGK được coi là đã sử dụng các yếu tố miêu tả và biểu cảm rất thành công, vì:

- Trước hết, đây là văn bản tự sự: đoạn câu chuyện của chàng chăn cừu (nhân vật “tôi”) với cô chủ nhỏ xinh đẹp trong một đêm trời đầy sao.

- Các yếu tố miêu tả gồm: cảnh trời sao, hình ảnh cô chủ nhỏ.

- Các yếu tố biểu cảm gồm: cảm xúc của nhân vật “tôi” trước đêm sao trời đẹp đẽ và cô chủ nhỏ đáng yêu.

- Yếu tố miêu tả và biểu cảm có tác dụng làm cho câu chuyện đêm sao giữa nhân vật “tôi” với cô chủ nhỏ thêm đẹp đẽ và hấp dẫn, ấn tượng. Nếu không có miêu tả và biểu cảm, câu chuyện này sẽ trở nên khô khan.

II- Quan sát, liên tưởng, tưởng tượng trong miêu tả và biểu cảm của văn bản tự sự:

Bài tập 1- Chọn điền các từ sau vào các câu tương ứng (SGK).

a- Điền từ: Liên tưởng.

b- Điền từ: Quan sát.

c- Điền từ: Tưởng tượng.

Bài tập 2- (SGK).

Gợi ý: 

Miêu tả cần đến quan sát, nhưng cũng rất cần đến liên tưởng, tưởng tượng, vì liên tưởng giúp cho việc việc so sánh, lựa chọn các chi tiết quan sát được, còn tưởng tượng giúp ta hình dung ra sản phẩm (hình tượng) một cách hoàn chỉnh và sáng tạo.

Quan sát chỉ có tác dụng giúp ta có được các chi tiết, sự kiện, làm chất liệu cho hoạt động sáng tạo; liên tưởng giúp ta so sánh, phát hiện cái riêng, cái chung, nét độc đáo của đối tượng; còn tưởng tượng mới là khâu quyết định chất lượng của hoạt động sáng tạo trong miêu tả.

Chứng minh: Trong đoạn văn mục I.4 (SGK), để miêu tả đêm sao sáng và cô gái, tác giả đã quan sát bằng mắt (thị giác), bằng tai (thính giác), bằng da thịt (xúc giác)...; liên tưởng cô chủ nhỏ như chú mục đồng (cậu bé chăn cừu) của nhà trời; tưởng tượng ra cuộc hành trình thầm lặng của các vì sao như một đàn cừu lớn...

Bài tập 3- (SGK).

Gợi ý: 

Để câu chuyện không gây cảm giác khô khan, người kể chuyện phải:

+ Tìm cảm xúc, rung động từ sự quan sát (ý a), liên tưởng, tưởng tượng, hồi ức (b), từ những sự vật, sự việc đã và đang lay động trái tim người kể (c).

+ Trong các ý trên, ý (d) không chính xác, vì cảm xúc vốn là sự lay động của trái tim, không thể đi tìm cảm xúc từ trong cảm xúc.

+ Chứng minh qua đoạn trích I.4: Cảm xúc, suy nghĩ của chàng chăn cừu (nhân vật “tôi”) được rút ra từ:

- Các hình ảnh quan sát được từ trời sao và cô bé.

- Những liên tưởng của nhân vật “tôi”.

- Những sự vật, sự việc gây cảm xúc mạnh: cô chủ nhỏ ngả đầu lên vai...

Luyện tập:

Bài tập 1- Nhận xét về vai trò của yếu tố miêu tả và biểu cảm trong các  đoạn trích:

a-Đoạn trích trong Ra-ma buộc tội, từ “Nói dứt lời, Gia -na ki oà khóc” đến hết đoạn trích.

Gợi ý: 

+ Nội dung đoạn văn kể lại việc Gia-na-ki bước lên giàn hỏa trước sự chứng kiến của mọi người.

+ Các yếu tố miêu tả gồm: gương mặt, thái độ, việc làm của các nhân vật Lắc-ma-na, Ra-ma, Gia-na-ki và những người khác. Đặc biệt nổi bật là hình ảnh Gia-na-ki bước lên giàn hỏa.

+ Các yếu tố biểu cảm là tình cảm, thái độ của người kể thể hiện trong cách kể, nhất là trong đoạn cuối: “Ai nấy, già cũng như trẻ đau lòng đứt ruột xem nàng Gia-na-ki đứng trong dàn hoả”, “các phụ nữ bật ra tiếng khóc thảm thương, cả loài quỉ Rắc-sa-xa, lẫn loài khỉ Va-na-ra cũng cùng kêu khóc vang trời”... Đây là cách biểu cảm gián tiếp thông qua hình ảnh và lời kể.

+ Các yếu tố miêu tả và biểu cảm có vai trò hết sức quan trọng trong đoạn trích, làm cho câu chuyện có được những chi tiết sinh động hấp dẫn và gây xúc động người đọc..

b- Đoạn trích từ truyện ngắn Lẵng quả thông của Pau-tốp-xki:

Gợi ý: 

+ Nội dung đoạn trích kể về việc nhân vật Gri-gơ bắt gặp cô bé con ông gác rừng đang nhặt những quả thông bỏ vào trong lẵng. Trong đoạn trích có phần miêu tả cảnh rừng thu lá vàng.

+ Vai trò của đoạn miêu tả là làm cho câu chuyện trở nên hết sức sinh động và có hồn.

Bài tập 2- Viết đoạn văn tự sự kể về một chuyến đi trong đó có sử dụng yếu tố miêu tả và biểu cảm.

Gợi ý: 

HS tự chọn một trong các nội dung tự sự: một chuyến về thăm quê, một lần đi du lịch, tham quan...

Có thể dựa theo bố cục sau:

+ Hoàn cảnh chuyến đi (thời gian, không gian, mục đích...).

+ Công tác chuẩn bị khởi hành.

+ Các sự việc diễn ra trong chuyến đi (Phương tiện đi? Những ai cùng đi? Hoạt động của từng người thế nào? Qua những chặng đường nào?...) Chú ý nhấn mạnh các sự việc tiêu biểu; dùng các yếu tố miêu tả để tả cảnh vật, con người..., và dùng biểu cảm để tỏ thái độ...

+ Cảm nhận của anh (chị) sau chuyến đi (biểu cảm).

TUẦN 8 2

 ĐỌC VĂN:                         TAM ĐẠI CON GÀ

(Truyện cười)

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Truyện cười là những câu chuyện có mục đích giải trí hoặc phê phán thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân, cũng như để chế giễu, đả kích các thế lực thống trị lỗi thời...

Tam đại con gà là truyện cười chỉ trích thói “sĩ diện hão” của những thấy đồ dột mà lại hay giấu dốt, từ đó nêu cao bài học cho muôn đời về sự chân thành trong học hỏi.

2- HS thấy được những đặc sắc của nghệ thuật truyện cười: truyện rất ngắn gọn, tạo được những yếu tố bất ngờ, những cử chỉ, lời nói gây cười.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1-  Mâu thuẫn trái tự nhiên trong truyện Tam đại con gà.

Gợi ý:

- “Thầy” liên tiếp bị đặt vào tình huống phải trả lời gấp.

- “Thầy” giải quyết tình huống bằng cánh chống chế. Sự láu cá “vụng chèo khéo chống” của anh thầy đồ: anh ta không biết chữ “kê” (gà) vì nhiều nét rắc rối, nghi là chữ “dủ dỉ”, không học hỏi thêm mà lại xin đài hỏi Thổ công rồi dạy liều. Đến khi gặp chủ nhà chất vấn liền chống chế: dạy cho trò biết “tam đại con gà”.

- “Thầy” đã tự bộc lộ cái dốt của mình ở chỗ đưa ra một hệ thống “tam đại con gà” một cách vô lí, vụng về, hài hước.

Mâu thuẫn trái với tự nhiên: “Thầy” dốt nhưng không chịu nhận mình là dốt, cuối cùng vẫn lộ ra là dốt.

Bài tập 2- Ý nghĩa của truyện: phê phán thói sĩ diện hão, hay giấu dốt của những kẻ sĩ hợm mình.

Luyện tập- Phân tích hành động, lời nói của “thầy đồ” để thấy thủ pháp gây cười của truyện.

Gợi ý: 

Dựa vào hành động, lời nói của anh thầy đồ trong truyện để chứng minh thủ pháp gây cười chủ yếu trong truyện là: dựa trên mâu thuẫn mang tính hài hước (Đã dốt lại ra vẻ ta đây là giỏi, cuối cùng vẫn lộ cái dốt của nhân vật anh thầy đồ).

ĐỌC VĂN:           NHƯNG NÓ PHẢI BẰNG HAI MÀY

(Truyện cười)

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Truyện phê phán thói tham nhũng của bọn tham quan thời phong kiến. Lòng tham đã bóp méo sự thật, chà đạp lên công lí.

2- Nghệ thuật gây cười: Tạo ra sự trùng lặp bất ngờ trong những câu nói và ám hiệu đồng nghĩa.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Phân tích kịch tính trong đoạn: “Cải vội xoè năm ngón tay... bằng hai mày”.

Gợi ý: 

a- Trước đó, Cải đã hối lộ thầy Lí 5 đồng (5 x 1 = 5).

b- Lời nói và động tác của Cải và thầy Lí:

+ Cải xoè 5 ngón tay (ám hiệu: 5 đồng, ý muốn nhắc thầy số tiền đã hối lộ hôm trước).

+Thầy Lí xòe 5 ngón tay trái úp lên 5 ngón tay mặt (ám hiệu: 5 x 2) và nói: “Tao biết mày phải”, “nhưng nó còn phải bằng hai mày” (Ngô đã hối lộ thầy Lí 10 đồng).

Như vậy, người đọc thấy thầy Lí đã nhẩm tính rất nhanh, cứ 5 đồng thì thầy qui về 1 lẽ phải, cho nên mới có chuyện “phải bằng hai”.

Bài tập 2- Nghệ thuật gây cười qua lời nói của thầy Lí ở cuối truyện:

Gợi ý: 

Trong lời nói của thầy Lí ở cuối truyện có sự đồng nhất giữa “lẽ phải” với số tiền nhận hối lộ, khiến cho “lẽ phải” có thể đo, đếm được (giống như với đồng tiền). Từ đó gây nên tiếng cười.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý: 

Đánh giá về nhân vật Ngô và Cải:

+ Họ là những người nông dân bình thường, tội nghiệp, đáng thương.

+ Nhưng họ cũng là những người đáng trách: họ đã có những hành vi không tốt (đánh nhau), lại không chịu nhận khuyết điểm về mình mà đều muốn trút tội cho đối phương, thậm chí đều có hành động hối lộ nhà chức trách.

+ Nói chung, họ bị rơi vào tình cảnh bi hài: vừa khốn khổ (bi), lại vừa bị chê cười (hài).

Luyện tập: Phân tích cả hai truyện để thấy đặc trưng của thể loại truyện cười.

Gợi ý: 

đặc trưng của truyện cười dân gian:

a- Về nội dung: thường châm biếm, chế giễu những thói hư, tật xấu trong nội bộ nhân dân, hoặc đả kích những thói xấu khác trong xã hội.

Trong 2 truyện trên: truyện Tam đại con gà chế giễu thầy đồ dốt nát nhưng lại sĩ diện hão. Truyện Nhưng nó phải bằng hai mày đả kích thói tham nhũng của bọn tham quan ô lại trong xã hội xưa.

b- Về nghệ thuật: Truyện cười thường tạo ra những mâu thuẫn trái với tự nhiên để gây cười.

Trong hai truyện trên, truyện Tam đại con gà tạo ra mâu thuẫn là sự dốt nát (bên trong) với cái làm ra vẻ ta đây là giỏi (bên ngoài) của thầy đồ; truyện Nhưng nó phải bằng hai mày lại dựa trên mâu thuẫn là việc phân xử phải trái lại được “đo, đếm” như đối với đồng tiền.

LÀM VĂN:       

VIẾT BÀI VĂN SỐ 2: VĂN TỰ SỰ

Hướng dẫn chung: HS cần nắm vững đặc trưng của văn tự sự. Đọc lại các bài đã học về văn tự sự để có ý thức về cách viết sao cho sát với yêu cầu của đề. HS có thể được làm bài dựa trên các đề đã có trong SGK, hoặc đề do GV nêu ra.

Để làm bài có kết quả tốt, cần lưu ý những điểm sau đây:

+ Văn tự sự (kể chuyện) cần phải có cốt truyện, nhân vật, tình huống... Nếu đề cho sẵn các yếu tố này, HS chỉ cần tìm cách diễn đạt sao cho sáng tạo, có thể sự sáng tạo đó là ở một góc nhìn mới (so với truyện đã có), hay ngôn từ mới, cảm xúc mới...

+ Phải viết sao cho câu chuyện không phải chỉ là của một người cá biệt nào đó mà phải trở thành câu chuyện có ý nghĩa cho nhiều người.

+ Bố cục bài viết phải mạch lạc. Nên viết rõ phần mở bài, thân bài, kết bài như đã hướng dẫn.

TUẦN 9 2

ĐỌC VĂN:

CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Ca dao là một bộ phận quan trọng trong văn học dân gian, đó là phần lời của những bài hát dân ca, có một bộ phận đã mất đi phần nhạc, chỉ lưu truyền bằng cách đọc cho nhau nghe.

Nội dung ca dao biểu lộc đời sống tâm tư của nhân dân lao động trong các lĩnh vực cuộc sống. Những lời than thân, những tiếng nói yêu thương, tình nghĩa chiếm một số lượng đáng kể và có giá trị lớn trong kho tàng ca dao cổ.

2- Nghệ thuật của ca dao ngắn gọn, hàm súc, ngôn ngữ giản dị, gần với lời nói hàng ngày, và mang tính đại chúng. Hình tượng trong ca dao chân thật, dân dã và đậm sắc thái dân tộc...

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Bài 1, 2:

Gợi ý:

a) Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như...” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ thế nào?

Cả hai lời than thân đều của người con gái chưa có chồng. Thân phận của họ chỉ là những người bình thường, thua kém trong xã hội, cho nên mới chờ đợi sự may rủi của cuộc đời (không biết vào tay ai), cũng như cầu mong mọi người thấu hiểu cho thực chất bên trong (ngọt bùi), chứ không căn cứ vào vẻ bề ngoài (như củ ấu).

b- Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau.

+ Trong câu 1: “Thân em như tấm lụa đào- Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của người con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng, đem ra để mua bán, đổi chác (Ghi chú: Với những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, nội dung câu ca dao trên được hiểu như đã phân tích. Vẫn có thể hiểu nó theo cách khác: Lời hát của người con gái kiêu kì đang thách thức các chàng trai).

Nét đẹp của người con gái trong câu ca này mang màu sắc sang trọng, co quí, kiêu kì (được ví như tấm lụa đào).

+ Trong bài 2: “Thân em như củ ấu gai- Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen- Ai ơi nếm thử mà xem- Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”, nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung (“Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen”) khiến cho cô gái bị hiểu nhầm (Tuy nhiên, cũng có thể hiểu đây là một cách nói khiêm nhường cốt để nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong).

Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm.

Bài tập 2- Bài 3:

Gợi ý:

a- Mở đầu bài ca dao (3) không dùng các từ “Thân em như…”, mà lấy việc trèo khế để gợi ra nội dung tâm tình: “Trèo lên cây khế nửa ngày- Ai làm chua xót lòng này khế ơi!”. Đại từ “ai” phiếm chỉ, nhưng trong ngữ cảnh này, đó là từ chỉ người bạn tình.

b- Mặc dù lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững thủy chung. Điều đó được nói lên qua các cặp ẩn dụ: sao Hôm- sao Mai, mặt trăng- mặt trời (để chỉ hai người vừa đôi phải lứa); còn thể hiện qua hình ảnh so sánh: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”, ý nói tình duyên tuy không thành nhưng lòng người vẫn đơn phương chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp nhau.

Tác giả lấy các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ để khẳng định tình yêu của mình vì 2 lí do:

+ Các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ này (sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, mặt trăng, mặt trời) gắn bó với cuộc sống lao động của những chàng trai, cô gái nông thôn (trong lao động, họ thường phải đi sớm, về khuya, một sương hai nắng…), cho nên, những hình ảnh này dễ đi vào liên tưởng, suy nghĩ, cảm xúc của họ.

+ Các hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp riêng, có thể trở thành nơi gửi tình, ngụ ý, diễn tả tâm hồn…

c- Phân tích câu cuối: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời

+ Ý nghĩa của câu cuối: (Dẫu mình không còn nhớ đến ta, thì) ta vẫn chờ đợi tình yêu của mình không bao giờ thôi, giống như sao Vượt cứ đứng giữa trời đợi trăng lên.

+ Vẻ đẹp của câu ca thể hiện trong hình tượng sao Vượt, cũng tức là nằm trong sự so sánh, liên tưởng độc đáo: chàng trai thấy sao Vượt (tức sao hôm) thường mọc từ khi trời chưa tối, và khi trời mới tối xuống đã thấy sao sáng trên đỉnh trời rồi. Vì thế có nơi gọi sao Hôm là sao Vượt (tức vượt lên trên các vì sao khác). Đã có nhiều câu thơ hay viết về sao Hôm, nhưng đây cũng là một ý thơ dân gian rất độc đáo khi nghĩ rằng, sao Vượt mọc sớm hơn là để lên đỉnh trời hẹn với trăng rằm, chờ trăng rằm mọc.Lấy chuyện sao và trăng để nói chuyện tình yêu như vậy quả thật là rất có duyên.

+ Vẻ đẹp của câu ca dao còn thể hiện trong tình cảm, tâm hồn tác giả: ở đây, tác giả dân gian đã thể hiện vẻ đẹp của một tâm hồn cao thượng, với tình yêu thủy chung, son sắt dẫu là đơn phương.

Bài tập 3- Bài 4:

Gợi ý:

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng của chúng:

- Ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai…” (Chiếc khăn là ẩn dụ gửi gắm nỗi lòng thương nhớ); “Đèn thương nhớ ai…” (Chiếc đèn là ẩn dụ nói lên nỗi nhớ khôn nguôi); “Mắt thương nhớ ai…” (Đôi mắt là hoán dụ nói lên nỗi lòng thao thức vì thương nhớ).

- Phép lặp (Lặp từ ngữ và mô hình cú pháp):

Các từ thương, nhớ… được lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh, tăng thêm nỗi nhớ thương. Các từ khăn, đèn, mắt cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng người đọc.

Mô hình câu:

“Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất.

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai…”

cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm cảm xúc, cảm giác liên quan đến niềm thương nhớ.

- Các câu hỏi tu từ được sử dụng liên tục: “Khăn thương nhớ ai- Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai- Mà đèn chẳng tắt? Mắt thương nhớ ai- Mà mắt không yên?…”.

Tác dụng của những câu hỏi tu từ liên tục làm cho tình cảm được láy đi láy lại, hợp với tâm tảng bồn chồn, không yên vì thương nhớ.

- Những câu thơ ngắn gồm 4 tiếng (hình thức vãn bốn) có tác dụng như một sự thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn. Sự phối hợp với câu lục bát ở cuối càng làm nổi bật sắc thái sốt ruột trong những câu thơ bốn chữ.

Bài tập 4- Bài 5: Chiếc cầu- dải yếm là một mô-típ nghệ thuật chỉ có trong ca dao để nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Phân tích vẻ đẹp độc đáo của mô típ nghệ thuật về chiếc cầu.

Gợi ý:

+ “Chiếc cầu” có ý nghĩa tượng trưng cho sự nối liền khoảng cách tình cảm giữa con người với con người.

+ “Chiếc cầu- dải yếm” là một hình tượng độc đáo trong ca dao thể hiện khát vọng tình cảm mãnh liệt của các trang nam nữ thành niên.

+ Trong ca dao tình yêu có một số câu nói đến “chiếc cầu” nhưng không có câu nào độc đáo bằng hình ảnh “bắc cầu dải yếm”.

Bài tập 5- Bài 6: (SGK).

Gợi ý:

+ Khi nói đến tình nghĩa, ca dao Việt Nam đã dùng hình ảnh muối và gừng bởi hai phẩm vật này có những nét đặc trưng giống với tình cảm con người. Gừng là loại có vị cay để lại dư vị (không giống như các loại có vị cay khác như ớt, quế…); muối cũng là một loại có vị mặn có hậu (dễ chịu về sau). Nói chung, cả hai vị đều rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, và chúng đều mang đặc điểm chung là có dư vị dễ chịu.  Điều đó rất thích hợp để ví với tình cảm có trước có sau, sâu nặng, mặn mà…

+ Phân tích ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao:

Muối ba năm muối đang còn mặn

Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

Đôi ta tình nặng nghĩa dày

Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

- Muối mặn, gừng cay biểu trưng cho tình nhgiã mạn nồng.

- Ba năm, chín tháng biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu.

- Ba vạn sáu ngàn ngày tức 100 năm, biểu trưng cho suốt cuộc đời, cũng có nghĩa là vĩnh hằng.

Bài tập 6- Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao? Chúng có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết?

Gợi ý:

+ Các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao (qua các bài vừa học) là:

- Biện pháp so sánh (trong các bài 1, 2, 3).

- Biện pháp ẩn dụ (bài 2, 3, 4, 5, 6).

- Hoán dụ (bài 4).

- Nói quá (bài 5,6)

+ Thơ trong văn học viết (gọi là thơ bác học) khác với ca dao (gọi là thơ dân gian) ở chỗ: tuy cũng sử dụng các biện pháp nghệ thuật nêu trên nhưng các hình ảnh, câu chữ, cách ví von, so sánh…trong thơ bác học có những nét khó hiểu hơn, uyên thâm hơn; còn với thơ dân gian, các hình ảnh, câu chữ, diễn đạt… đều rất bình dân, gần gũi với đại chúng.

Luyện tập:

Câu 1- Tìm 5 bài ca dao mở đầu bằng “Thân em như…”.

- Thân em như miếng cau khô

Người khôn tham mỏng, người thô tham dày.

- Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

- Thân em như tấm lụa đào

Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai.

- Thân em như quế giữa rừng

Ong chưa dám đậu muỗi đừng vo ve.

- Thân em như tấm lụa điều

Đã đông kẻ chuộng lại nhiều người ưa…

- Thân em như cái sập vàng

Lũ chúng anh như tổ ong tàn trời mưa…

Trong các bài ca dao trên không phải bài nào cũng thuộc chủ đề than thân. Các bài thứ 4, 5, 6 đều thể hiện sự kiêu kì của người con gái dẫu lúc đầu có dùng cách nói khiêm nhường.

Câu 2- Bài giành cho HS khá giỏi. HS tự sưu tầm.

TIẾNG VIỆT:

ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ NÓI VÀ NGÔN NGỮ VIẾT

 

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết có những đặc điểm rất khác nhau. HS cần nắm vững các đặc điểm của cả hai phong cách này để khi nói và viết, tránh được sự nhầm lẫn, nhất là không được “viết như nói”.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Luyện tập:

Bài tập 1- Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ viết trong đoạn trích (SGK).

Gợi ý:

HS dựa vào phần lí thuyết, mục II để chỉ ra các đặc điểm của ngôn ngữ viết thể hiện trong đoạn trích. Cụ thể:

+ Đặc điểm 1- Ngôn ngữ viết được thể hiện bằng chữ viết và được tiếp nhận bằng thị giác...

Với đoạn trích bài viết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Đây là bài viết trên báo, không phải bài nói chuyện, người tiếp nhận bằng cách đọc (chứ không phải nghe), đúng với đặc điểm nêu trên.

+ Đặc điểm 2- Ngôn ngữ viết không có ngữ điệu, không có sự phối hợp của các yếu tố ngoài ngôn ngữ, nhưng các yếu tố trên được thay thế bằng dấu câu.

Với đoạn trích bài viết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Các dấu câu (dấu chấm, phẩy, hai chấm, ngoặc đơn, hai chấm, chấm qua hàng...) đã thay thế cho ngữ điệu và các yếu tố ngoài ngôn ngữ.

+ Đặc điểm 3- Từ ngữ gọt giũa, ít dùng từ khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lóng...; thường viết những câu dài, ít có các từ dư thừa.

Với đoạn trích bài viết của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Các từ ngữ đều được gọt giũa để đạt tới độ chính xác cao, hơn nữa còn có các thuật ngữ chính xác; câu văn có thể dài ngắn nhưng cấu trúc mạch lạc và không có từ ngữ dư thừa; sử dụng triệt để các dấu ngặc đơn, ngoặc kép, ba chấm...

Bài tập 2- Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói đwocj ghi lại trong đoạn trích (SGK).

Gợi ý:

Đặc điểm của ngôn ngữ nói và sự vận dụng phân tích đoạn trích:

+ Đặc điểm 1- Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, người nghe giao tiếp trực tiếp, luân phiên đổi chỗ cho nhau.

Trong đoạn trích: những câu đối thoại có hình thức của ngôn ngữ nói, vì đó là ngôn ngữ bằng âm thanh, không cần chữ viết, người nói và người nghe luân phiên...

+ Đặc điểm 2: Ngữ điệu rất đa dạng, có nhiều yếu tố phi ngôn ngữ .

Trong đoạn trích: Ngữ điệu được ghi lại bằng các dấu câu. Trong các lời thoại, câu cảm, câu kể, câu hỏi liên tục thay đổi, cùng với các dấu chấm, dấu phẩy liên tục, báo hiệu ngữ điệu luôn thay đổi. Các yếu tố phi ngôn ngữ kèm theo hỗ trợ thường xuyên như: “Mấy cô gái lại cứ đẩy cô ả này ra với hắn, cười như nắc nẻ”; “Thị cong cớn”; “Tràng ngoái cổ lại, vuốt mồ hôi trên mặt cười”; “Thị liếc mắt, cười tít”...

+ Đặc điểm 3: Từ ngữ đa dạng, sinh động, chưa gọt giũa, nhiều trợ từ, thán từ, từ đệm, đưa đẩy đan xen; nhiều câu tỉnh lược, nhưng cũng nhiều yếu tố dư thừa (nhưng cần thiết).

Trong đoạn trích: Từ ngữ trong các lời thoại có rất nhiều từ ngữ đưa đẩy, các thán từ, hô ngữ (Kìa, đấy, thật đấy, này, nhỉ...), nhiều từ ngữ thuộc phong cách khẩu ngữ, từ địa phương... (Có khối cơm trắng mấy dò đấy...); có nhiều câu tỉnh lược (Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!)...

Bài tập 3- Phân tích lỗi và sửa lại các câu dưới đây cho hợp với ngôn ngữ viết (SGK).

Gợi ý:

Câu a- Trong thơ ca Việt Nam thì đã có nhiều bức tranh mùa thu đẹp hết ý.

-Lỗi: nhầm phong cách ngôn ngữ nói với phong cách ngôn ngữ viết. Cụ thể: xem xét lại các từ thì, đã, hết ý trong câu (Dư thừa và không đúng phong cách).

- Có thể chữa lại là: Trong thơ ca Việt Nam có nhiều bức tranh mùa thu rất đẹp.

Câu b- Còn như máy móc, thiết bị do nước ngoài đưa vào góp vốn thì không được kiểm soát, họ sẵn sàng khai vống lên đến mức vô tội vạ.

- Lỗi: thừa các từ “như”, “thì”; sai phong cách các từ ngữ: “khai vống lên”, “vô tội vạ”.

- Có thể sửa lại là: Máy móc, thiết bị do nước ngoài đưa vào góp vốn  không được kiểm soát, họ sẵn sàng khai tăng lên đến mức không có giới hạn.

Câu c- Cá, rùa, ba ba, ếch nhái, chim ở gần nước thì như cò, vạc, vịt, ngỗng... thì cả ốc, tôm, cua... chúng chẳng chừa ai sất.

- Lỗi: sai nhiều, cả về từ ngữ lẫn diễn đạt.

- Có thể sửa lại là:

Cá, rùa, ba ba, ếch nhái..., cả ốc, tôm, cua..., với  chim ở gần nước như cò, vạc, vịt, ngỗng... chúng chẳng chừa thứ nào hết.

Hoặc:

Cá, rùa, ba ba, ếch nhái..., cả ốc, tôm, cua..., chim ở gần nước (như cò, vạc, vịt, ngỗng...)  chẳng chừa thứ nào hết.

TUẦN 10 2

ĐỌC VĂN:                     CA DAO HÀI HƯỚC

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Ca dao hài hước là một bộ phận quan trọng trong kho tàng ca dao Việt Nam. Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm tin vào cuộc sống của nhân dân lao động cho dù cuộc đời còn có nhiều gian truân.

Mục đích của ca dao hài hước là tạo ra tiếng cười giải trí mua vui, nhưng có nhiều trường hợp dùng tiếng cười để chế giễu những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân cũng như để phê phán, đả kích những hạng người xấu trong xã hội.

2- HS nắm được một số biện pháp nghệ thuật của ca dao hài hước như phóng đại, đối lập, chơi chữ..., tích luỹ vốn bằng cách thuộc lòng một số bài ca dao hài hước.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Đọc bài ca 1 trong SGK và trả lời các câu hỏi. 

Gợi ý:

- Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây rất khác thường: bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” “miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước và rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

- Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, đối chọi (tương phản) để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

Trước hết là nghệ thuật tương phản giữa ý định với thực tế: chàng trai có nhiều dự định cao sang trong việc dẫn cưới, nhưng chỉ vì nghèo nên đã đưa ra đủ lí do để thoái thác, cuối cùng chỉ dẫn tới một thực tế hết sức trái ngược: đó là dẫn cưới chỉ bằng “một con chuột béo”. Trong lời cô gái cũng có nghệ thuật tương phản: “Người ta thách lợn, thách gà- Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”.

Biện pháp nói quá trong cả hai lời dẫn cưới và thách cưới. Trong thực tế chẳng có ai dẫn cưới bằng “chuột” và cũng không có ai thách cưới bằng “khoai lang”. Cách nói quá ở đây cốt để nhấn mạnh cái nghèo và để gây nên tiếng cười hóm hỉnh, đáng yêu.

Bài tập 2- Đọc các bài ca số 2, 3, 4 và trả lời câu hỏi (SGK): 

Gợi ý:

- Tiếng cười trong các bài ca dao này khác với bài 1 về tính phê phán và tự trào. Bài 1 là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

- Trong bài ca dao số 2, 3 đối tượng đáng cười là chàng trai yếu đuối; mục đích cười là để chế giễu sự yếu hèn của chàng trai; thái độ cười: thân ái, vui đùa. Trong bài ca dao số 4, đối tượng cười là tình yêu mù quáng của anh chồng đối với vợ. Vì quá yêu nên xấu cũng thành đẹp. Mục đích chế giễu sự mù quáng trong thẩm mĩ của những cặp vợ chồng vì quá yêu nhau. Thái độ phê phán: thân mật.

- Nét riêng về nghệ thuật của mỗi bài ca dao:

+ Bài số 2 sử dụng lối nói ngược (“Làm trai cho đáng sức trai” mà lại chỉ “gánh hai hạt vừng”), nói quá (ai lại “gánh hai hạt vừng”?).

+ Bài số 3 sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”?)

+ Bài số 4 cũng dùng biện pháp nói quá nhưng là 2 lần nói quá (đồng nói quá): vừa nói quá về cái xấu của cô vợ, lại vừa nói quá về tình yêu mù quáng của ông chồng. Cái hấp dẫn của màn hài hước này là ở chỗ sự cường điệu diễn ra song hành, không có điểm dừng, cho thấy tình yêu của anh chồng cũng mù quáng không có điểm dừng.

Bài tập 3-  (SGK)

Gợi ý:

Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: đối chọi (tương phản), nói ngược (phản ngữ), nói quá (cường điệu)...

Luyện tập:

Bài tập 1-  Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào?

Gợi ý:

+ Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát: buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

+ Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân

trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc sảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

Bài tập 2-  Sưu tầm những bài ca hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà, nghiện ngập rượu chè, tệ tảo hôn, đa thê...

Gợi ý:

HS có thể sưu tầm trong các sách tục ngữ, ca dao- dân ca hoặc tìm hiểu những người lớn hiểu biết và có vốn văn học dân gian.

LÀM VĂN:        LUYỆN TẬP VIẾT ĐOẠN VĂN TỰ SỰ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Đoạn văn trong văn bản tự sự bao gồm nhiều loại tùy thuộc chức năng, nhiệm vụ của mỗi đoạn. Đoạn văn trung tâm của văn bản tự sự kể lại những diễn biến của câu chuyện, với các tình tiết, nhân vật, mâu thuẫn và xung đột .

2- Kĩ năng viết các đoạn văn tự sự: bắt đầu bằng việc hình dung câu chuyện, rồi lần lượt kể lại theo trình tự (có thể theo trình tự thời gian); trong khi kể phải biết nhấn mạnh các chi tiết quan trọng, tô đậm các hình ảnh, nhân vật, cảm xúc... để câu chuyện được sinh động. Chú ý viết những câu văn, đoạn văn chuyển tiếp để các đoạn văn được liên kết, và ý văn được mạch lạc.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

(HS đọc trong SGK).

II- CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG VĂN BẢN TỰ SỰ

Câu hỏi 1- (SGK)

Gợi ý:

a- Các đoạn văn trên nói chung thể hiện đúng dự kiến của nhà văn. Nội dung và giọng điệu của các đoạn mở đầu và kết thúc của chuyện đều có thiên hướng ngợi ca, ca ngợi vẻ đẹp của rừng xà nu, một hình tượng biểu trưng cho tinh thần quật khởi của đồng bào Tây Nguyên.

Tuy nhiên, mỗi đoạn lại có những nét riêng: đoạn mở đầu miêu tả rừng xà nu với sức sống dẻo dai trước những làn bom đạn của quân thù; đoạn kết miêu tả sức vươn lên của các lớp xà nu con và sức mạnh tổng thể của rừng xà nu “nối tiếp đến chân trời”.

b- Rút kinh nghiệm từ cách viết đoạn văn của Nguyên Ngọc:

+ Cần có ý tưởng, dự kiến từ trước cho nội dung và nghệ thuật của các đoạn văn.

+ Mỗi đoạn văn trong văn bản tự sự cần phải tập trung biểu hiện chủ đề chung, tuy nhiên vẫn phải có những đặ điểm khác nhau về nội dung và

nghệ thuật.

Câu hỏi 2-  (SGK)

Gợi ý:

a- Chưa thể coi đây là một đoạn trong văn bản tự sự, vì thực chất đây là ba đoạn đều đang được viết dở dang.

Đoạn văn trên gồm phần đầu (từ “Vậy là...” đến “... ửng lên”) là đoạn mở của truyện; phần giữa (từ “Một đoàn người...” đến “... ứa nước mắt”) là các đoạn trung tâm của truyện, viết chưa rõ ý; phần cuối thuộc đoạn kết.

b- Viết đoạn này, bạn học sinh mới thành công trong việc giới thiệu chuyện chị Dậu được phân công về làng Đông Xá, lãnh đạo nhân dân phá kho thóc và cướp chính quyền ở huyện. Những chỗ còn lại viết chưa thành công  và còn để trống.

Hướng dẫn viết tiếp các phần để trống trong đoạn văn:

+ Ở chỗ trống thứ nhất: HS nên kể  một đoạn về việc chị Dậu về làng, vận động nhân dân tham gia Cách mạng như thế nào? Nhân dân trong làng được chị thuyết phục và nghe theo chị ra sao? Trong quá trình đó, những ai (nhân vật do HS tưởng tượng ra) hưởng ứng và ủng hộ chị tích cực nhất? Những công việc cụ thể của họ như thế nào? Anh Dậu và các con chị lúc ấy ra sao? Bọn mật thám Pháp phối hợp với ông Lí ứng xử thế nào?...Cuối cùng, dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cấp trên, chị Dậu đã tập hợp được nhân dân làng Đông Xá, dương cao cờ đỏ sao vàng, xuống đường ủng hộ cách mạng.

+ Ở chỗ trống thứ 2: HS nên kể tiếp một đoạn ngắn về việc chị Dậu tuyên truyền, cổ động nhân dân như thế nào? Có thể đưa ra lời diễn thuyết của chị. Chú ý nội dung lời diễn thuyết phải ăn nhập với lời cuối. Chẳng hạn: chị Dậu thông báo về tình hình cách mạng đã bùng nổ khắp nơi, kêu gọi nhân dân làng Đông Xá vùng lên đánh Pháp, đuổi Nhật.

Câu hỏi 3-  (SGK)

Gợi ý:

Cách viết đoạn văn trong bài văn tự sự:

+ Hình dung câu chuyện diễn biến như thế nào?

+ Xây dựng kết cấu cho câu chuyện trong đoạn văn định kể.

+ Sử dụng các từ ngữ liên kết câu để đoạn văn mạch lạc, chặt chẽ.

TUẦN 11 2

ÔN TẬP VĂN HỌC DÂN GIAN

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- HS nắm vững các đặc trưng của văn học dân gian (phân biệt với văn học viết), bao gồm tính truyền miệng, tính tập thể và tính thực hành.

2- Ôn lại 12 thể loại của văn học dân gian đã học, bao gồm: thần

thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, truyện thơ dân gian, ca dao, tục ngữ, vè, câu đố, sân khấu dân gian.

3- HS biết vận dụng những kiến thức chung về đặc trưng và thể loại văn học dân gian để phân tích các tác phẩm, đoạn trích cụ thể.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- PHẦN ÔN TẬP

Câu hỏi 1- Trình bày định nghĩa văn học dân gian. Các đặc trưng cơ bản của văn học dân gian?

Gợi ý:

HS xem lại bài học Khái quát về văn học dân gian (SGK), trả lời theo các ý cơ bản sau:

+ Định nghĩa văn học dân gian: văn học dân gian là những tác phẩm tập thể, truyền miệng, nhằm phục vụ các sinh hoạt tinh thần của tầng lớp bình dân trong xã hội.

+ Đặc trưng của văn học dân gian, chứng minh:

- Tính truyền miệng: là đặc điểm nói lên phương tiện sáng tác, đó là ngôn ngữ nói, khác hẳn với văn học viết (sử dụng ngôn ngữ viết).

Các tác phẩm đã học như sử thi Đam Săn (dân tộc Ê-đê), truyện thơ Tiễn dặn người yêu (dân tộc Thái), Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy (dân tộc Kinh), cùng với các bài ca dao, truyện cười... đều được sáng tác và lưu truyền bằng miệng. Về sau, các tác phẩm đó mới được ghi chép lại.

- Tính tập thể: là đặc trưng trên phương diện người sáng tác. Văn học dân gian thường là tác phẩm của nhiều người, vì trong quá trình lưu truyền bằng miệng, những người tham gia vẫn có quyền thêm, bớt và sáng tạo lại khiến cho tác phẩm có được phong cách tập thể, phân biệt rõ rệt với các tác phẩm văn học viết (có phong cách cá nhân).

Một số tác phẩm lúc đầu do một cá nhân sáng tác, nhưng trong quá trình lưu truyền, tính cá nhân đã bị mai một, và có thêm sự tham gia của nhiều người nên cũng mang  phong cách của nhiều người.

Một số tác phẩm có tên người sáng tác, còn xác định được tác giả là ai (như ca dao Bảo Định Giang của Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, sử thi Hô-me-rơ của Hi-lạp thời cổ đại...). Những tác phẩm này vẫn được sáng tác theo phong cách tập thể, nghĩa là mang ý thức cộng đồng và đáp ứng thị hiếu tập thể ngay từ đầu.

Các tác phẩm văn học dân gian đã học đều mang tính tập thể, vì nó là sản phẩm sáng tác của tập thể, không mang dấu ấn phong cách của một cá nhân nào.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

+ Các thể loại của văn học dân gian (Xem mục Kiến thức... vừa nêu).

+ Đặc trưng của một số thể loại chính: (Xem bảng)

TT

Thể loại

Ví dụ

Đặc trưng

1

Sử thi anh hùng

Đam Săn

Kể về các nhân vật anh hùng thời hình thành các dân tộc với thái độ tôn vinh; có tính chất thần linh, kì ảo.

2

Truyền thuyết

An Dương Vương...

Kể về các nhân vật lịch sử; có liên quan đến thần linh.

3

Cổ tích

Tấm Cám

Kể về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, nhằm bênh vực cái thiện; có các yếu tố kì ảo tham gia hỗ trợ.

4

Truyện cười

Tam đại con gà

Kể về những điều nghịch lí, mất tự nhiên, nhằm giải trí hoặc phê phán.

5

Ca dao

Các bài ca dao đã học

Thể hiện tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của tầng lớp bình dân.

6

Truyện thơ

Tiễn dặn người yêu

Kể lại những câu chuyện tình cảm, cũng có  đấu tranh chống cái ác như dưới hình thức bài thơ dài.

+ Lập bảng tổng hợp:

Truyện dân gian

Câu nói dân gian

Thơ dân gian

Sân khấu dân gian

Thần thoại

Truyền thuyết

Cổ tích

Ngụ ngôn

Truyện cười

Tục ngữ

Câu đố

Sử thi

Truyện thơ

Ca dao

Chèo

Tuồng đồ

Các trò diễn (có tích trò)

Bài tập 3- Lập bảng tổng hợp và so sánh các thể loại (SGK):

Tham khảo:

Thể loại

Mục đích sáng tác

Hình thức lưu truyền

Nội dung phản ánh

Kiểu nhân vật

Đặc điểm nghệ thuật

Sử thi (anh hùng)

Ca ngợi các anh hùng thời tiền sử

Kể, có diễn trò

Cuộc chiến đấu để mở rộng bộ tộc, bộ lạc

Nhân vật anh hùng

- Nhân vật người anh hùng vô song

- Có quan hệ với thần linh

Truyền thuyết

Kể lại chuyện của các nhân vật lịch sử

Kể

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốc gia, dân tộc

Các vị vua chúa, hoặc danh nhân

- Các vị vua, chúa có gốc hiện thực.

- Có sự giúp đỡ của thần linh

Cổ tích

Giáo huấn và thưởng thức nghệ thuật

Kể

Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác

Chính diện và phản diện

Kết cấu theo mô-típ; nhân vật một chiều; có yếu tố kì ảo tham gia.

Truyện cười

Giải trí và phê phán

Kể

Thói hư, tật xấu trong xã hội

Những kiểu người bất thường

Khai thác mâu thuẫn trái với tự nhiên

Bài tập 4- (SGK)

a- Ca dao than thân thường là lời của ai? Vì sao? Thân phận của những người ấy hiện lên như thế nào? bằng những so sánh, ẩn dụ gì?

Gợi ý:

+ Ca dao than thân là lời của những người phụ nữ bình dân; vì những người phụ nữ bình dân trong xã hội phong kiến phải chịu nhiều điều bất hạnh, họ phải chịu nhiều tầng áp bức.

Thân phận người phụ nữ bình dân hiện lên trong những bài ca dao than thân như là những số phận không thể tự chủ, không quyết định được vận mệnh của mình. Họ thường ví mình như “tấm lụa đào” giữa chợ, như “hạt mưa sa” giữa trời, như “giếng nước giữa đàng”..., không biết vận may rủi sẽ rơi vào tay ai?

+ Ca dao yêu thương, tình nghĩa đề cập đến niềm thương nỗi nhớ, tình cảm mặn mà, thủy chung son sắt...

Ca dao thường nhắc đến “cái khăn”, “cái cầu” để bộc lộ tình yêu vì đó là những hình ảnh có thể biểu trưng cho tình cảm, cho khát vọng tình yêu của nhân dân lao động.

Ca dao cũng thường dùng các biểu tượng “cây đa”, “bến nước”, “con thuyền”, “gừng cay”, “muối mặn”... để nói lên tình nghĩa của mình vì những sự vật ấy có những nét tương đồng, gần gũi với tình cảm của con người nông thôn Việt Nam.

+ So sánh tiếng cười tự trào và tiếng cười phê phán xã hội trong ca dao hài hước: đây đều là những tiếng cười hóm hỉnh, thông minh, hài hước. Điều này cho thấy tâm hồn người bình dân luôn lạc quan trước cuộc đời còn nhiều nỗi lo toan, vất vả.

b- Những biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao.

Gợi ý:

HS nhớ lại kết quả trả lời câu hỏi về nghệ thuật trong các bài ca dao than thân, ca dao tình nghĩa, và ca dao hài hước, lập bảng hệ thống hay liệt kê các biện pháp nghệ thuật thường dùng. Nêu ý nghĩa và dẫn chứng.

Tham khảo:

Biện pháp nghệ thuật

Ý nghĩa

Ví dụ

So sánh

Là cách đối chiếu sự vật này với sự vật khác trên cơ sở những nét giống nhau

Thân em như tấm lụa đào...

Thân em như củ ấu gai...

Thân em như giếng giữa đàng...

Muối mặn..., gừng cay... (như) đôi ta tình nặng nghĩa dày...

Ẩn dụ

Là cách lấy tên của sự vật này để nói sự vật khác trên cơ sở những nét giống nhau

Mặt trăng sánh với mặt trời...

Khăn thương nhớ ai...

Hoán dụ

Là cách lấy tên của sự vật này để nói sự vật khác trên cơ sở những nét gần nhau

Mắt thương nhớ ai...

Nói quá

Tức phóng đại, có ít nói nhiều, có nhỏ nói to, hay ngược lại

Ước gì sông rộng một gang...

Lỗ mũi mười tám gánh lông...

Nói ngược

Cách nói làm cho những gì trái ngược nhau nhưng lại nằm trong hình thức thuận chiều.

Làm trrai cho đáng nên trai- Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng

Tương phản

Cách nói tạo thành hai vế ngược nhau

Chồng người đi ngược về xuôi- Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo

II- BÀI TẬP VẬN DỤNG

Bài tập 1- (SGK)

Gợi ý:

+ Những nét nổi bật trong nghệ thuật miêu tả nhân vật anh hùng của sử thi:

- So sánh:

“Thế là Đam Săn lại múa. Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc...” (Đoạn giữa).

“Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang với sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy...” (Đoạn cuối).

- Phóng đại:

“Khi chàng múa chạy nước kiệu, quả núi ba lần rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung” (Đoạn giữa).

“Bà con xem, Đam Săn uống không biết say, ăn không biết no, chuyện trò không biết chán” (Đoạn cuối)....

- Yếu tố kì ảo: Trong đoạn trích, sở dĩ Đam Săn chiến thắng Mtao Mxây còn có vai trò rất quan trọng của Ông Trời. Đây là nhân vật thần linh theo quan niệm của người Ê-đê thời xưa, cũng là yếu tố kì ảo trong truyện dân gian nói chung.

+ Các biện pháp này góp phần tạo nên âm hưởng hùng tráng, vẻ đẹp rực rỡ trong nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật anh hùng, vẻ đẹp của người anh hùng sử thi được lí tưởng hóa.

Bài tập 2-  Truyện Mị Châu- Trọng Thủy(SGK)

Tham khảo:

Cốt lõi sự thật lịch sử

Hư cấu thành bi kịch gì?

Những chi tiết hoang đường, kì ảo

Tính chất của bi kịch

Kết quả của bi kịch

Bài học rút ra

Mị Châu kết hôn cùng Trọng Thủy theo sự sắp đặt của vua cha.  Thuỷ làm gián điệp, lấy được bí mật chiếc nỏ. An Dương Vương mất nước. Mị Châu, Trọng Thuỷ rơi vào bi kịch

Bi kịch của Mị Châu- Trọng Thủy là bi kịch của tình yêu: Mị Châu vì tình yêu mà mất cảnh giác; Trọng Thủy vì mâu thuẫn giữa tình yêu với nghĩa vụ quốc gia mà phải tự vẫn.

Các chi tiết hoang đường, kì ảo:

+ Chiếc lẫy nỏ thần.

+ Rùa Vàng (Sứ Thanh Giang).

+ Ngọc trai (theo lời nguyện của Mị Châu trước khi chết)

+ Ngọc trai- giếng nước (rửa nước giếng Trọng Thủy, ngọc trai sáng lên).

Bi kịch mang tính chất lịch sử:  đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, chuyển từ thời Văn Lang- Âu Lạc sang thời thuộc Hán.

Đất nước Âu- Lạc bị diệt. Trọng Thủy- Mị Châu đều bị chết.

Bài học cảnh giác

Bài tập 3-  Phân tích truyện cổ tích Tấm Cám để làm rõ đặc sắc nghệ thuật của truyện là sự chuyển biến hình tượng nhân vật Tấm(SGK)

Gợi ý:

+ Trong truyện Tấm Cám, nhân vật Tấm có sự chuyển hóa liên tục, từ chỗ yếu đuối, thụ động, đến chỗ kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho mình”.

+ Chứng minh qua các giai đoạn:

- Yếu đuối, thụ động: từ đầu đến chỗ Tấm chết hóa thành con chim vàng anh. Trong đoạn này, nhân vật Tấm chủ yếu xuất hiện với tư cách nạn nhân, là con người nhỏ bé, yếu đuối, bị áp bức...

- Chuyển hoá thành chủ động, kiên quyết đấu tranh giành lại sự sống và hạnh phúc cho mình: từ chỗ hóa thành chim vàng anh đến hết truyện. Trong đoạn này, Tấm trở nên chủ động, kiên quyết, mạnh mẽ hơn. Biểu hiện của những phẩm chất đó qua tiếng chim Vàng Anh (Giặt áo chồng tao...), qua tiếng khung cửi (Kẽo cà kẽo kẹt- Lấy tranh chồng chị- Chị khoét mắt ra...); qua cả việc hóa thân qua các kiếp khác: kiếp làm con chim, kiếp làm cây xoan, cây thị..., và cuối cùng trở về kiếp con người.

+ So sánh với các truyện cổ tích khác (như Thạch Sanh, Sự tích trầu cau và vôi...): Các truyện cổ tích khác ít có không gian nghệ thuật rộng rãi, qua nhiều kiếp như vậy; tính cách, số phận của các nhân vật cũng không có nhiều biến hóa như trong truyện Tấm Cám.

Bài tập 4-  Lập bảng (SGK)

Tham khảo:

Truyện

Đối tượng cười

Nội dung cười

Tình huống cười

Cao trào

Tam đại con gà

Thầy đồ dốt

Thói sĩ diện hão, đã dốt lại hay dấu dốt

Thầy bị học trò hỏi dồn, nhất là bị người nhà chất vấn

Thầy bịa ra “Dủ dỉ là chị con công, cong công là ông con gà” để chống chế

Nhưng nó phải bằng hai mày

Quan tham

Thói tham ô, ăn hối lộ

Hai người cùng hối lộ quan, quan xử kiện dựa theo số tiền nhận hối lộ

Cử chỉ của Cải và ông Lí, ngầm liên quan với lời ông Lí: “Tao biết mày phải, nhưng nó còn phải bằng hai mày”

Bài tập 5-  (SGK)

Tham khảo:

a- Điền tiếp:

- Thân em như tấm lụa điều

Đã đông kẻ chuộng lại nhiều kẻ ưa.

- Thân em như miếng cau khô,

Người khôn tham mỏng, người thô tham dày.

- Thân em như tấm lụa đào

Dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai.

- Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về với mẹ mà không có đò.

- Chiều chiều chim rét kêu chiều

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

- Chiều chiều ra đứng lầu tây

Thấy cô gánh nước tưới cây ngô đồng...

+ Mở đầu các bài ca dao theo mô-típ như vậy có tác dụng tạo ra thói quen để người nghe dễ tiếp nhận.

b- Thống kê:

Các hình ảnh so sánh

Các hình ảnh ẩn dụ

- Thân em như tấm lụa đào

 Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

- Thân em như củ ấu gai

 Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

- Mình ơi mình nhớ ta chăng

 Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

- Muối ba năm muối đang còn mặn

 Gừng chín tháng gừng hãy còn cay,

 Đôi ta tình nặng nghĩa dày

 Có xa nhau đi chăng nữa, ba vạn sáu  ngàn ngày mới xa

- Mặt trăng sánh với mặt trời

 Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng...

- Khăn thương nhớ ai

 Khăn rơi xuống đất...

 Đèn thương nhớ ai

 Mà đèn chẳng tắt...

+ Giải thích lí do: Nhân dân lao động lấy các hình ảnh so sánh ẩn dụ này trong thực tế lao động sản xuất hàng ngày. Những người đi sớm về khuya thường thấy sao Mai, sao Hôm, sao Vượt rất gần gũi; những người nông dân thấy “gừng cay, muối mặn” chiếc khăn, chiếc đèn... là những vật rất thân thuộc...

+ Hiệu quả nghệ thuật của các hình ảnh so sánh, ẩn dụ trong ca dao: Làm cho tình cảm của người bình dân được diễn tả một cách kín đáo, sâu sắc, tinh tế và mang tính dân tộc.

c- Tìm thêm một số câu ca dao nói về chiếc khăn, chiếc áo, nỗi nhớ của những đôi lứa đang yêu, biểu tượng cây đa, bến nước, con thuyền, gừng cay, muối mặn...

HS tự sưu tầm. Có thể tham khảo cuốn: Tục ngữ- Ca dao- Dân ca của Vũ Ngọc Phan.

d- Tìm thêm một số câu ca dao hài hước:

HS tự sưu tầm.

Bài tập 6-  (SGK)

+ Tìm một vài bài thơ sử dụng chất liệu văn học dân gian:

Tham khảo:

- Khổ thơ của Chế Lan Viên: 

“Cái rét đầu mùa anh rét xa em

Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa

Nửa đắp cho em ở miền sóng bể

Nửa đắp cho mình ở phía không em...”

Khổ thơ trên có sử dụng chất liệu trong bài Ngồi tựa mạn thuyền (Dân ca quan họ Bắc Ninh):

“... Đêm dài, đêm lạnh, canh trường

Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường đợi ai?”

- Bài thơ Bài ca xuân 68 của Tố Hữu có đoạn:

“Hoan hô anh Giải phóng quân

Kính chào Anh, con người đẹp nhất!

Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất

Sống hiên ngang, bất khuất trên đời

Như Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi...”

Đoạn thơ có sử dụng chất liệu trong truyện cổ tích Thạch Sanh.

- Bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi có đoạn:

“Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy, sáng loà”...

Khổ thơ trên có sử dụng 2 hình ảnh trong ca dao: hình ảnh “lửa thử vàng” và “bông sen không lấm trong bùn”:

“Vàng thì thử lửa,  thử than

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời”

Hình tượng “lửa thử vàng” dẫn đến việc dùng từ “sáng loà” trong câu: “Nước Việt Nam từ máu lửa- Rũ bùn đứng dậy sáng loà”.

Và bài ca dao:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Do ý tứ của bài ca dao này mà Nguyễn Đình Thi đã sử dụng từ “bùn” trong “Rũ bùn đứng dậy... ”.

Có vô số các bài thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết... đã xây dựng hình tượng dựa trên chất liệu của văn học dân gian. Các nhà thơ, nhà văn lớn thường lấy trong ca dao, truyện kể dân gian những yếu tố nội dung và nghệ thuật làm nên tác phẩm của mình.

III-CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ HỌC

HS tổ chức ngoài khoá dưới sự chỉ đạo của GV.

Nội dung ngoại khoá:

+ Chia thành các nhóm để tổ chức diễn xuất các màn kịch: chiến thắng Mtao Mxây; Mị Châu- Trọng Thủy; một trong các truyện cười; một trong các truyện cổ tích...

Chú ý: Để trình diễn tốt, cần có kịch bản do cả nhóm tập trung soạn thảo. Nên cử một bạn có năng khiếu soạn trước, rồi cả tổ góp ý kiến. Sau cùng là phải có công luyện tập, và có thể đạo diễn tập thể hoặc cử một bạn có khả năng phụ trách việc này.

+ Sưu tầm tác phẩm văn học dân gian địa phương. HS có thể sử dụng lại các tài liệu về văn hoá, văn học địa phương, hoặc tự sưu tầm. Lưu ý, các bài ca dao, truyện kể thường gắn liền với các sinh hoạt văn hóa truyền thống như lễ hội, hát múa tập thể...

+ Viết một bài suy nghĩ về những vấn đề mà anh (chị) cảm thấy tâm đắc nhất.

LÀM VĂN:                  TRẢ BÀI LÀM VĂN SỐ 2

YÊU CẦU:

+ HS nắm vững cách viết một bài văn tự sự, thực hiện thành thạo việc kể lại một câu chuyện đơn giản, trong đó có các tình tiết, sự kiện, nhân vật, mâu thuẫn, và bước đầu biết thể hiện ý nghĩa của các mâu thuẫn trong truyện.

+ Sau tiết trả bài HS nắm vững những ưu, nhược điểm trong bài viết của mình.

TUẦN 12 2

ĐỌC VĂN:      

KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN HẾT THẾ KỈ XIX

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- HS nắm được các thành phần chủ yếu và các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam từ TK.X đến hết TK.XIX.

+ Các thành phần chủ yếu gồm: Văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm; ngoài ra còn một số tác phẩm viết bằng tiếng Pháp (của Nguyễn Ái Quốc những năm 1920).

+ Các giai đoạn gồm:

a) Từ TK.X đến hết TK.XIV;

b) Từ TK.XV đến hết TK.XVII;

c) Từ TK.XVIII đến nửa đầu TK.XIX;

d) Nửa cuối TK.XIX.

2- HS nắm được một số đặc điểm về nội dung và hình thức của văn học trung đại Việt Nam.

+ Các đặc điểm lớn về nội dung gồm: chủ nghĩa yêu nước; chủ nghĩa nhân đạo; và cảm hứng thế sự.

+ Các đặc điểm lớn về hình thức nghệ thuật gồm:Tính qui phạm và sự phá vỡ qui phạm; Tính trang nhã và xu hướng bình dị; Tính dân tộc và tiếp thu tinh hoa của văn học nước ngoài.

3- HS thuộc lòng hoặc hiểu được một số tác gia, phẩm tiêu biểu của văn học trung đại.

B- HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

Bài tập 1- Nêu những đặc điểm riêng của hai thành phần văn học.

Tham khảo:

            Thành phần

Đặc điểm

Văn học chữ Hán

Văn học chữ Nôm

Về thời điểm xuất hiện

Khoảng từ TK.X

Khoảng cuối TK.XIII

Về thể loại

Gồm nhiều thể loại phong phú: chiếu, biểu, hịch, cáo, truyện truyền kì, kí sự, tiểu thuyết chương hồi, phú, thơ cổ phong, thơ Đường luật,...

Chủ yếu là thơ, bao gồm: truyện thơ (thể lục bát), ngâm khúc (thể song thất lục bát), thơ Nôm Đường luật, thơ Đường luật thất ngôn xen lục ngôn, hát nói,...

Vị trí

Là bộ phận có địa vị thống trị, được các triều đại phong kiến coi trọng.

Là bộ phận không được giai cấp thống trị coi trọng, nhưng có vị trí đặc biệt trong nền văn học dân tộc.

Thành tựu, ý nghĩa, giá trị

Nhiều thành tựu to lớn

Cũng có nhiều thành tựu lớn, cho thấy sức sống của ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam

Bài tập 2- Dựa vào kiến thức đã trình bày trong mục II (SGK), lập bảng theo mẫu (SGK).

Tham khảo: Bảng thống kê.

 Giai đoạn  văn học

Nội dung

Nghệ thuật

Sự kiện văn học, tác giả, tác phẩm

Từ TK.X đến hết TK.XIV

Chủ nghĩa yêu nước với âm hưởng hào hùng

Văn học chữ Hán: Tiếp thu các thể loại văn học Hán.

Văn học chữ Nôm: mới xuất hiện.

+ Dân tộc mới giành được độc lập, văn học ảnh hưởng trực tiếp dân tộc Hán.

+ Chiến thắng quân Nguyên-Mông.

+ Các tác giả, tác phẩm chính: Chiếu dời đô (Lí Công Uẩn); Vận nước (Đỗ Pháp Thuận), Sông núi nước Nam (Lí Thường Kiệt),Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn) Phú sông Bạch Đằng (Trương Hán Siêu)...

Từ TK.XV đến hết TK.XVII

Từ nội dung yêu nước, yêu nước mang âm hưởng ngợi ca, đến phản ánh và phê phán hiện thực.

Văn học chữ Hán phát triển với nhiều thể loại; Thơ chữ Nôm cũng phát triển cùng với chữ Hán, có nhiều sáng tạo về thể loại như thể lục ngôn xen thất ngôn, song thất lục bát,...

+ Chiến thắng quân Minh.

+ Chế độ phong kiến hưng thịnh đến đỉnh cao nhưng cũng có những dấu hiệu suy đồi.

+ Tác gia, tác phẩm: Nguyễn Trãi với Quân Trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập,Quốc âm thi tập...; Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn; Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ...

Từ TK.XVIII đến nửa đầu TK.XIX

Chủ nghĩa nhân đạo xuất hiện và phát triển tới đỉnh cao

Phát triển cả văn vần lẫn văn xuôi, cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Địa vị văn học chữ Nôm được khẳng định và phát triển đến đỉnh cao. Có nhiều thành tựu về văn xuôi với các thể loại kí sự, tiểu thuyết chương hồi,...

+Trịnh- Nguyễn phân tranh; Tây Sơn và triều đại Quang Trung xuất hiện nhưng nhanh chóng sụp đổ; Nhà Nguyễn phục hồi. Nhân dân chịu cảnh chiến tranh liên miên.

+ Các tác gia, tác phẩm chính: Đặng Trần Côn với Chinh phụ ngâm khúc (Bản dịch Nôm của Đoàn Thị Điểm), Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái, Nguyễn Du với thơ chữ Hán và kiệt tác Truyện Kiều, thơ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ,...

Nửa cuối TK.XIX.

Chủ nghĩa yêu nước âm hưởng bi tráng; có tư tưởng canh tân đất nước

Văn học viết bằng chữ quốc ngữ xuất hiện, tuy chưa phát triển nhưng tạo tiền đề cho văn học hiện đại; Văn học chữ Hán mất dần địa vị thống trị;Chữ Nôm vẫn giữ vai trò quan trọng.

+Pháp xâm lược. Các phong trào khởi nghĩa chống Pháp thất bại.

+Các tác gia, tác phẩm: Nguyễn đình Chiểu với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Lục Vân Tiên, Ngư tiều vấn đáp...; Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ mùa thu; Tú Xương với nhiều bài thơ hiện thực trào lộng...

Bài tập 3- Nêu một số tác phẩm văn học đã học trong chương trình THCS để làm sáng tỏ những đặc điểm lớn về nội dung của văn học Việt Nam TK.X đến TK. XIX.

Gợi ý:

+ Các đặc điểm lớn về nội dung gồm: chủ nghĩa yêu nước; chủ nghĩa nhân đạo; và cảm hứng thế sự.

+ HS nhớ lại các tác phẩm văn học trung đại đã học ở THCS, gồm:

- Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt)

- Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn)

- Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

(Các tác phẩm trên chứng minh cho chủ nghĩa yêu nước)

- Truyện Kiều (Nguyễn Du)

- Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn- Bản dịch chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm).

- Mời trầu, Bánh trôi nước(Hồ Xuân Hương).

(Các tác phẩm trên chứng minh cho chủ nghĩa nhân đạo)

- Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chiều hôm nhớ nhà (Bà huyện Thanh Quan).

- Thói đời (Nguyễn Công Trứ)

- Thương vợ (Trần Tế xương),...

(Các tác phẩm trên chứng minh cho cảm hứng thế sự)

Bài tập 4- Văn học Việt Nam TK.X đến TK. XIX có những đặc điểm lớn nào về nghệ thuật? Từ đó suy ra sự khác nhau về cách đọc của văn học cổ so với văn học hiện đại?

Gợi ý:

+ Các đặc điểm lớn về nghệ thuật của văn học trung đại gồm:Tính qui phạm và sự phá vỡ qui phạm; Tính trang nhã và xu hướng bình dị; Tính dân tộc và tiếp thu tinh hoa của văn học nước ngoài.

+ Suy ra cách đọc:

- Coi trọng tính qui phạm (nắm vững tính qui phạm như: niêm, luật trong thơ Đường...), nhưng đồng thời đánh giá đúng mức tính sáng tạo ở chỗ phá vỡ tính qui phạm.

- Chú ý đến vẻ đẹp trang nhã (không phải hiện thực trần trụi mà được cách điệu, làm sang trọng hơn lên), nhưng đồng thời cũng đánh giá đúng mức xu hướng bình dị hoá, gần gũi với đại chúng, nhân dân lao động...

- Chú ý đến tính dân tộc (cả về hình thức lẫn nội dung), nhưng đồng thời phải chú ý đến sự vay mượn, nhất là của người Hán.

TIẾNG VIỆT:      PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- HS nắm vững khái niệm phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, nắm được các dạng biểu hiện của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.

2- Rèn luyện kĩ năng nhận biết, phân tích các đặc điểm của  phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, viết văn bản theo hình thức ngôn ngữ sinh hoạt.

B- HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

Câu hỏi 1- Đọc mục I.1 (SGK).

Gợi ý:

Ngôn ngữ sinh hoạt còn được gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ nói, lời nói miệng, ngôn ngữ hội thoại...

Từ đoạn văn hội thoại trên có thể rút ra khái niệm: Ngôn ngữ sinh hoạt là dạng thức hoạt động của ngôn ngữ, chủ yếu ở hình thức nói, dùng để giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày.

Câu hỏi 2- Đọc mục I.2 (SGK) và cho biết các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt?

Gợi ý:

Ngôn ngữ sinh hoạt chủ yếu thể hiện ở dạng nói và có cả ở dạng viết.

Trong dạng nói có: đối thoại, độc thoại, đa thoại.

Trong dạng viết có: nhật kí, thư từ...

Ngoài ra, còn có dạng lời nói tái hiện. Đây là cách ghi lại hay bắt chước lời nói tự nhiên. Ví dụ: Lời thoại trong sân khấu, điện ảnh, lời thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn xuôi; bài ghi lời phát biểu, nói chuyện của các nhà lãnh đạo, nhà văn hóa,...

Luyện tập:

a) Phát biểu ý kiến về nội dung các câu sau:

- Lời nói chẳng mất tiền mua,

  Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Gợi ý:

Nội dung câu ca dao khuyên người ta phải biết lựa chọn ngôn từ sao cho nói năng đạt hiệu quả cao nhất.

Câu ca dao cho thấy đặc điểm của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là luôn coi trọng mục tiêu thuyết phục tình cảm của người nghe.

Từ đây rút ra bài học: khi nói năng trong sinh hoạt hàng ngày, cần phải “lựa lời” sao cho có hiệu quả giao tiếp tình cảm cao nhất.

- Vàng thì thử lửa, thử than

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

Gợi ý:

Nội dung câu ca dao đề cao năng lực nói năng của con người trong sinh hoạt hàng ngày, coi việc sử dụng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là thước đo để đánh giá con người.

Câu ca dao cũng khuyên người ta phải biết cẩn trọng khi sử dụng phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.

b) Xem SGK.

Gợi ý:

Trong đoạn trích (SGK) ngôn ngữ sinh hoạt được biểu hiện ở dạng lời nói tái hiện: đó là lời nói của nhân vật Năm Hên trong Bắt sấu rừng U Minh của nhà văn Sơn Nam.

- Nhận xét về việc dùng từ:

+ Có nhiều câu tỉnh lược.

+ Nhiều từ địa phương.

+ Nhiều dấu câu để biểu thị ngữ điệu.

(Tuy nhiên có chỗ vẫn chưa đạt. VD: “Cực lòng biết bao nhiêu khi nghe...” Những từ ngữ này thuộc phong cách ngôn ngữ viết, không đúng với phong cách ngôn ngữ nói).

TUẦN 13 2

ĐỌC VĂN:                              TỎ LÒNG

1- Tóm tắt là một kỹ năng rất quan trọng và cần thiết trong quá trình lĩnh hội tác phẩm. Nó giúp người đọc (truyện) biết nhìn một cách khái quát, nắm bắt được cốt lõi của tác phẩm, hình dung được sơ bộ về cuộc đời, số phận, tính cách... của nhân vật chính. Đây cũng là bước đầu tiên trước khi đi vào phân tích nhân vật, khám phá nội dung và nghệ thuật tác phẩm văn học.

I- MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ  (SGK).

II- CÁCH TÓM TẮT VĂN BẢN TỰ SỰ DỰA THEO NHÂN VẬT CHÍNH

Bài tập: (SGK)

Gợi ý:

a) Các nhân vật chính trong truyện An Dương Vương là: An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy.

b) Tóm tắt truyện dựa theo nhân vật An Dương Vương:

HS dựa theo kết cấu 4 đoạn của truyện để tóm tắt:

Đoạn 1- An Dương Vương xây thành Cổ Loa; làm nỏ thần, chiến thắng giặc ngoại xâm.

Đoạn 2- Triệu Đà dùng kế cầu hoà, Vua An Dương Vương mắc mưu, gả Mỵ Châu cho Trọng Thuỷ. Thủy dỗ Mỵ Châu, đánh tráo nỏ thần.

Đoạn 3- Triệu Đà xâm lược. An Dương Vương thất bại. Mỵ Châu rải  lông ngỗng trên đường chạy trốn. Rùa Vàng hiện lên mách bảo. An Dương Vương chém chết Mỵ Châu rồi cùng Rùa Vàng rẽ nước xuống biển.

Đoạn 4- Trọng Thuỷ chôn cất Mỵ Châu, quá thương tiếc nàng, nhảy xuống giếng tự vẫn. Đời sau đem ngọc trai rửa giếng nước ấy thì sáng lên.

c) Tiếp tục tìm hiểu và tóm tắt truyện dựa theo nhân vật Mị Châu:

Có thể dựa trên kết cấu mới của truyện như sau:

+ Mị Châu là con gái duy nhất của An Dương Vương.

+ Sau khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa, Triệu Đà nhiều lần tấn công thành đều thất bại, lui về Trâu Sơn đắp luỹ và nghĩ kế cầu hoà.

+ Một hôm, Mỵ Châu được biết Trọng Thuỷ là con trai Triệu Đà sang cầu hôn nàng. Nể lời vua cha, và nghĩ tình thông gia hai nước, nàng nhận lời.

+ Rồi họ sống với nhau rất hoà thuận.Trọng Thuỷ dỗ Mỵ Châu cho xem chiếc nỏ thần. Mỵ Châu nghĩ tình vợ chồng, không nỡ giấu, bèn đưa cho Thuỷ xem.

+ Ít lâu sau, Trọng Thủy về nước, chia tay Mỵ Châu đầy quyến luyến. Mỵ Châu thấy lạ nhưng không nỡ nghi ngờ chồng, hẹn lấy lông ngỗng làm dấu tìm nhau nếu xảy ra loạn lạc.

+ Triệu Đà lấy được nỏ thần, ra lệnh tấn công. An Dương Vương thua, cùng Mỵ Châu chạy trốn. Cùng đường, Rùa Vàng hiện lên cho biết chính  Mị Châu là thủ phạm. Bấy giờ, Mị Châu mới bàng hoàng hiểu ra tất cả, nhưng đã muộn rồi. Công chúa chỉ còn kịp thanh minh bằng lời nguyện thề, xin rằng khi chết, nếu thần linh chứng giám sự trong sáng của nàng, xin cho được hóa thành ngọc trai. Rồi nàng chấp nhận để vua cha chém đầu.

+ Trọng Thuỷ đuổi theo đến bờ biển, ôm xác Mị Châu về táng tại Loa Thành, rồi vì nhớ thương nàng mà nhảy xuống giếng tự vẫn.

+ Trai biển đông ăn được máu của Mị Châu nên hóa ngọc. Đời sau đem ngọc trai biển đông rửa vào nước giếng Trọng Thuỷ thì ngọc sáng hơn.

d) Suy ra cách thức tóm tắt văn bản tự sự dựa theo nhân vật chính.

(HS đọc mục ghi nhớ trong SGK. Có thể tham khảo phần A của bài học theo tài liệu này).

Luyện tập:

Bài tập 1- Đọc 2 đoạn tóm tắt (SGK)

Gợi ý:

a) Đoạn trích 2 có phần tóm tắt truyện Người con giá Nam Xương, từ sau dấu hai chấm (:): “Chàng Trương đi đánh giặc...” đến “...không kịp nữa”.

Mục đích tóm tắt ở (1) và (2) có khác nhau:

Đoạn trích (1), tóm tắt có mục đích giúp người học nắm được cốt truyện. Đoạn trích (2) chỉ tóm tắt nhằm chuẩn bị cho một luận điểm: dân chúng không chịu chấp nhận cái đau đớn, không chịu kết thúc như vậy.

b) Cách tóm tắt ở (1) và (2) cũng khác nhau:

Đoạn trích (1) lần lượt kể lại vắn tắt câu chuyện dựa theo kết cấu, bố cục. Đoạn trích (2) lược bỏ rất nhiều, chỉ lột ra cái “thần” của truyện, tức chỉ kể lại một vài sự việc tiêu biểu nhất.

Lí do khác nhau vì mục đích tóm tắt khác nhau: đoạn (1) tóm tắt vì mục đích giáo dục, đoạn (2) vì mục đích nghiên cứu; đối tượng nghe (đọc) tóm tắt cũng khác nhau: học sinh phổ thông (đoạn 1) và các nhà nghiên cứu hoặc sinh viên (đoạn 2).

Bài tập 2- Tóm tắt truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy dựa theo nhân vật Trọng Thủy.

Gợi ý: Có thể dựa vào các đoạn để lập ý cho văn bản tóm tắt. Phải đứng từ góc độ nhân vật trọng Thuỷ để tóm tắt.

Tham khảo:

+ Sau khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa, Triệu Đà nhiều lần tấn công thành đều thất bại, bèn lui về Trâu Sơn đắp luỹ và nghĩ kế cầu hoà.

Trọng Thuỷ được cha sắp đặt vào mưu kế gián điệp.

+ Trọng Thuỷ cầu hôn Mỵ Châu. Rồi họ sống với nhau rất hoà thuận.

+ Trọng Thuỷ thực hiện mưu kế của cha: dụ dỗ Mỵ Châu cho xem bí mật chiếc nỏ thần. Mỵ Châu tin chồng nên đã cho Thuỷ xem.

+ Trọng Thủy lén làm chiếc nỏ thần giả rồi đem đánh tráo.

+ Trọng Thủy về nước, chia tay Mỵ Châu đầy quyến luyến. Mỵ Châu hẹn lấy lông ngỗng làm dấu để tìm nhau nếu xảy ra chuyện binh đao.

+ Triệu Đà lấy được nỏ thần, ra lệnh tấn công. An Dương Vương thua, cùng Mỵ Châu chạy trốn, nhưng đến cùng đường, biết Mỵ Châu là thủ phạm bèn chém chết Mỵ Châu rồi cùng Thần Kim Quy rẽ nước xuống biển.

+ Trọng Thuỷ đuổi theo đến bờ biển, ôm xác Mỵ Châu về táng tại Loa Thành, rồi vì nhớ thương nàng mà nhảy xuống giếng tự vẫn.

+ Trai biển đông ăn được máu của Mỵ Châu nên hóa ngọc. Đời sau đem ngọc trai biển đông rửa vào nước giếng Trọng Thuỷ thì ngọc sáng hơn.

Bài tập 2- Tóm tắt truyện Tấm Cám dựa theo nhân vật Tấm.

Gợi ý: Có thể dựa vào kết cấu của truyện để tóm tắt.

a- Phần đầu (Giới thiệu gia cảnh của Tấm):Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ, Tấm là con bà cả, Cám là con bà lẽ. Bố mẹ mất sớm, Tấm phải ở với dì. Hằng ngày Tấm phải làm việc rất vất vả, còn Cám thì chỉ chơi bời, chẳng biết làm việc gì.

b- Phần thứ hai (Cuộc sống hàng ngày của Tấm. Tấm luôn bị mẹ con Cám ức hiếp. Bụt giúp đỡ cô).

c- Phần thứ ba: (Tấm ở hiền gặp lành, trở thành hoàng hậu).

d- Phần thứ tư (Mẹ con Cám ghen ghét, giết Tấm, đưa em vào thay chị. Tấm nhiều lần đổi lốt thành kiếp chim vàng anh,  cây xoan đào, khung cửi, và cuối cùng là quả thị).

e- Phần kết (Tấm trở lại thành người, gặp được nhà vua. Mẹ con Cám phải trả giá vì tội lỗi và lòng ganh ghét).

LÀM VĂN:     

VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 3: VĂN TỰ SỰ

A- YÊU CẦU CẦN ĐẠT:

1- HS thể hiện được việc nắm vững kiến thức lí thuyết về văn tự sự, sự rèn luyện cẩn thận, công phu những kĩ năng làm văn tự sự đã học.

2- HS biết huy động những kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống và vốn văn học vào việc viết bài văn kể chuyện.

B- HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN

1- Về đề ra: HS có thể được làm các đề văn đã có trong SGK, nhưng cũng có thể được làm các đề khác do GV yêu cầu. Nhưng dù đề bài văn thế nào, bài viết kể chuyện cũng chỉ thống nhất ở những yêu cầu quan trọng đã nêu.

2- HS cần đọc kĩ đề ra, suy nghĩ về yêu cầu của đề. Hình dung câu chuyện mà mình sẽ kể. Vạch ra một số ý (tình tiết) làm dàn bài để tránh lạc đề hoặc viết lan man.

3- Quan tâm đến những tình tiết hấp dẫn nhất: những lời nói, việc làm, xung đột hấp dẫn nhất...

4- Diễn đạt rõ ràng thành các ý, các phần. Cố gắng viết những câu rõ nghĩa và có cảm xúc.

TUẦN 14

ĐỌC VĂN:                                      NHÀN

 Nguyễn Bỉnh Khiêm

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- HS cảm nhận được vẻ đẹp trong cuộc sống nhàn dật, nhân cách thanh cao, trí tuệ sáng suốt của nhà thơ. Nhàn là quan niệm sống của các nhà Nho thời loạn, xa lánh chỗ bon chen danh lợi, giữ cốt cách thanh cao, tâm hồn trong sạch.

2- HS cảm thụ một bài thơ với cách nói ẩn ý, ngược nghĩa thâm trầm, vẻ đẹp  mộc mạc, tự nhiên mà ý vị của ngôn ngữ thơ, một bằng chứng cho thấy sự trưởng thành của ngôn ngữ thơ Nôm.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

Câu 1- Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu hai câu thơ đầu có gì đáng lưu ý? Hai câu thơ ấy cho ta hiểu hoàn cảnh cuộc sống và tâm trạng tác giả như thế nào?

Gợi ý:  

Trong câu đầu, nhà thơ dùng số từ “một” lặp lại ba lần, cùng với các danh từ đứng sau chỉ công cụ nông ngư: “Một mai, một cuốc, một cần câu”.

Nhịp điệu trong hai câu thơ đầu thể hiện sự thong thả, ung dung:

“Một mai,/ một cuốc,/ một cần câu (2/2/3)

Thơ thẩn dầu ai/ vui thú nào”.(4/3)

Hai câu đầu gợi lên cuộc sống nghèo, thanh đạm, nhàn nhã, và chan hoà cùng thiên nhiên.

Tâm trạng của nhà thơ là tâm trạng của một kẻ sĩ “an bần lạc đạo”, vượt lên trên dị nghị của đời thường (Thơ thẩn mặc ai) để tìm đến cái thú vui của kẻ sĩ.

Câu 2-  Anh (chị) hiểu thế nào là “nơi vắng vẻ”, “chốn lao xao”? Quan niệm của tác giả về “dại”, “khôn” như thế nào? Tác dụng của nghệ thuật đối trong câu 3, 4?

+ “Nơi vắng vẻ”: nơi thôn quê yên tĩnh; “Chốn lao xao”: nơi thành thị, chốn quan trường.

+ Quan niệm “khôn” và “dại”:

- Khôn: Chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất.

- Dại: Xa lánh lợi lộc, tìm chốn thanh cao.

Đây là cách nói của đời thường, chưa phải quan niệm của tác giả. Tác giả mượn lối nói của đời thường để diễn đạt quan niệm sống của mình: mặc người đời cho là khôn hay dại, Nho sĩ thời loạn vẫn tìm về nơi yên tĩnh để ở ẩn.

+ Đối lập giữa “nơi vắng vẻ” với “chốn lao xao”, tác giả muốn khẳng định cách sống nhà cư ẩn dật: xa lánh chốn vinh hoa, chạy theo vật chất tầm thường. Hai vế tương phản, làm nổi bật ý nghĩa của mỗi vế.

Câu 3- Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt trong hai câu 5-6 có gì đáng chú ý? Phân tích giá trị nghệ thuật của hai câu này.

Hai câu 5-6:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Các sản vật và khung cảnh sinh hoạt hết sức giản dị, đạm bạc mà thanh cao, lối sống hoà nhập cùng cỏ cây hoa lá.

Cái thú của cảnh sống nhàn ẩn dật mang tính triết lí của các Nho sĩ là ở chỗ: trong thời loạn lạc, người có nhân cách cao đẹp phải xa lánh cuộc bon chen tầm thường, tìm đến nơi yên tĩnh, vui thú cùng cỏ cây, vạn vật, an lòng với cảnh nghèo khó, sống hoà mình với thiên nhiên vũ trụ, và giữ được cốt cách thanh cao, trong sạch.

Giá trị nghệ thuật của hai câu này là ở những hình ảnh mang tính quê mùa chân chất, đạm bạc, gợi cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng hiếm có.

Câu 4- Anh (chị) hiểu thế nào nhân cách của tác giả thể hiện ở hai câu cuối?(Với tích: “Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao”).

Với điển tích Thuần Vu, ta thấy hai câu cuối của bài thơ thể hiện quan niệm sống mang tính triết lý của tác giả: khi sống ẩn dật, xa lánh cuộc đời bon chen để giữ cho tâm hồn cốt cách được trong sạch, nhà Nho chỉ thấy “phú quí” (sự giàu sang) “tựa chiêm bao” (như trong giấc mộng) nghĩa là có mà cũng như không, rất phù phiếm, không có gì quan trọng...

Đây là triết lý của đạo Nho: sự thịnh hay suy là quy luật của vũ trụ, đất nước, triều đại có lúc hưng lúc vong. Nhà Nho là người “hiểu được ý Trời” nên khi nào ra làm quan, khi nào về ở ẩn, tất thảy đều tuân theo “mệnh Trời” (với tư cách là hình ảnh của quy luật tự nhiên và xã hội). Trong cả hai trường hợp, nhà Nho chân chính đều tự coi mình là cao quí, họ phải giữ cho tâm hồn, cốt cách trong sạch, không bị thói đời làm hoen ố.

Cho nên, trong hai câu cuối, tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện rõ là một kẻ sĩ thanh cao và trong sạch.

Câu 5- Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là gì?

Gợi ý:

Hiểu quan niệm sống nhàn là cách xa lánh nơi bon chen danh lợi, để hoà hợp với thiên nhiên, giữ cho cốt cách được trong sạch.

Quan niệm sống đó có mặt tích cực nhưng cũng có mặt tiêu cực:

- Tích cực: Không ủng hộ những thế lực xấu và thói xấu trong xã hội, giữ cho cốt cách được trong sạch, thanh cao.

- Tiêu cực: Về hành động, cách sống ẩn dật là sự xa lánh, thoát li cuộc sống hiện thực (Tuy nhiên không phải là không băn khoăn, trăn trở trước nhân tình thế sự).

Câu 6*- Cảm nhận chung về cuộc sống, nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ.

Gợi ý:

+ Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) là một nhà Nho uyên thâm nổi tiếng trong thời kì phân tranh Trịnh- Nguyễn. Nhưng sống trong thời loạn lạc, ông không ủng hộ thế lực phong kiến nào mà tìm đường lui về quê ẩn dật theo đúng lối sống của đạo Nho. Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, rút trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của ông. Bài thơ cho thấy một phần cuộc sống và quan niệm sống của tác giả trong cảnh ẩn dật.

+ Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên trong bài thơ là cuộc sống giản dị, đạm bạc (đơn giản), nhưng thanh cao, trong sạch.

+ Triết lí sống của ông là tư tưởng nhân sinh của đạo Nho, ứng xử trong thời loạn: kẻ sĩ “an bần lạc đạo” (yên phận với cái nghèo, vui với đạo), sống chan hoà với thiên nhiên, giữ cho tâm hồn luôn thanh cao.

+ Nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là nhân cách của một nhà Nho ẩn sĩ: cao cả, trong sạch, uyên thâm...

Luyện tập:

Phân tích vẻ đẹp cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ.

Gợi ý:

HS dựa vào kiến thức đã cung cấp trong những bài tập trên đây, hãy tự viết một bài văn theo yêu cầu phân tích bài thơ để chứng minh:

+ Vẻ đẹp cuộc sống...

+ Vẻ đẹp tâm hồn...

của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

ĐỌC VĂN:                         ĐỌC “TIỂU THANH KÍ”

(Độc "Tiểu Thanh kí”)

Nguyễn Du

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Cảm nhận được tâm sự xót thương, day dứt của nhà thơ đối với những kiếp người tài hoa bạc mệnh.

2- Hiểu và cảm nhận được tính hàm súc của ngôn từ và tính gợi cảm của hình ảnh trong thơ Đường chữ Hán nói chung và bài thơ này nói riêng.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Câu 1-  Anh (chị) hiểu vì sao Nguyễn Du lại đồng cảm với số phận của Tiểu Thanh?

Nguyễn Du đồng cảm với Tiểu Thanh vì cho rằng mình cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh: cùng là những nghệ sĩ tài hoa và bất hạnh.

Câu 2-  “Nỗi hờn kim cổ” có nghĩa là gì? Vì sao tác giả lại cho là “khó có thể hỏi trời”?

Câu 3-  Nguyễn Du thương cảm và đồng cảm với người phụ nữ có tài văn chương mà bất hạnh, điều đó nói lên điều gì về tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du?

Thương cảm và đồng cảm với Tiểu Thanh, một nữ sĩ có tài văn chương nhưng đoản mệnh, sống từ thời nhà Minh ở Trung Quốc (khoảng thế kỉ XVI), điều đó chứng tỏ tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du đã vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian- một cảm xúc nhân đạo bao la và sâu sắc.

Câu 4-  Phân tích vai trò của mỗi đoạn thơ (khai, thừa, chuyển, hợp) đối với chủ đề của toàn bài?

Gợi ý:  

+ Vai trò của 2 câu đầu (khai): Mở ra toàn bộ khung cảnh, hoàn cảnh, nhân vật, sự việc, cảm xúc...

“Tây hồ hoa uyển tận thành khư

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư”

(Hồ Tây cảnh đẹp hóa gò hoang

Thổn thức bên song mảnh giấy tàn)

+ Vai trò của hai câu 3, 4 (Thừa): Phát triển hình tượng cảm xúc, nêu nên nỗi khổ của một người.

“Chi phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh luỵ phần dư”

(Son phấn có thần chôn vẫn hận

Văn chương không mệnh đốt còn vương)

+ Vài trò của câu 5, 6 (Chuyển): Chuyển cảm xúc, mở rộng ý , và nâng cao tầm tư tưởng, nói đến nỗi khổ của muôn đời.

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kì oan ngã tự cư”

( Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi

Cái án phong lưu khách tự mang)

+ Vài trò của câu 7, 8 (Hợp): Tổng kết cảm xúc và kết thúc bài thơ, mở ra hướng suy ngẫm và cảm xúc dư âm.

“Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”

(Không biết ba trăm năm lẻ nữa

Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)

Luyện tập:

Đọc đoạn thơ trong Truyện Kiều (SGK), tìm ra điểm tương đồng với bài Đọc “Tiểu Thanh kí”.

Gợi ý:

+ Đoạn thơ viết về cảm xúc của Kiều trước mộ Đạm Tiên. Đạm Tiên cũng là một kẻ tài sắc bạc mệnh, tương ứng với số phận nàng Kiều, và so với Tiểu Thanh thì họ đều là những người cùng hội cùng thuyền (nghệ sĩ tài hoa, bạc mệnh).

+ Trong sáng tác của mình, Nguyễn Du rất quan tâm đến đề tài “những kiếp hồng nhan bạc mệnh” để chứng minh cho nỗi khổ của những kẻ tài hoa (Tài tình chi lắm cho trời đất ghen), từ đó mà phê phán xã hội và nói lên tiếng nói thương cảm, đồng cảm (tiếng nói nhân đạo) của mình đối với số phận con người.

TIẾNG VIỆT:      PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT

(Tiếp theo)

A- NHỮNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

Trong bài học tuần 12, HS đã làm quen, tìm hiểu khái niệm phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Trong bài học này, HS sẽ tiếp tục tìm hiểu phong cách này với các đặc trưng cơ bản của nó.

Các đặc trưng của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt gồm:

1- Tính cụ thể, tức gắn liền với người nói, người nghe cụ thể, có thời gian, địa điểm cụ thể, nhằm mục đích nói cụ thể, và có cách nói năng cụ thể...

2- Tính cảm xúc, tức gắn liền với một thái độ, tình cảm nhất định.

3- Tính cá thể, tức mang đặc điểm riêng của từng người nói về giọng điệu, cách lựa chọn từ ngữ, diễn đạt...

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Đọc đoạn nhật kí dưới đây (SGK) và trả lời câu hỏi:

a) Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt?

Gợi ý: 

HS cần trả lời lần lượt theo các ý:

+ Tính cụ thể là gì? Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cụ thể ?

(Tính cụ thể biểu hiện trong các từ ngữ chỉ thời gian cụ thể, công việc, hoàn cảnh, con người cụ thể...; các kiểu câu tỉnh lược, lối diễn đạt thân mật...).

+ Tính cảm xúc là gì? Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cảm xúc? (Tính cảm xúc biểu hiện trong các từ ngữ chỉ tình cảm, cảm xúc, những câu hỏi tu từ, câu cảm thán, trong cách diễn đạt chân tình...).

+ Tính cá thể là gì? Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện tính cá thể? (Tính cá thể biểu hiện trong các từ ngữ có ý nghĩa riêng biệt, cách dùng từ ngữ, diễn đạt đều rất riêng biệt của tác giả Đặng Thùy Trâm).

b) Anh (chị) có ghi nhật kí không? Theo anh (chị), ghi nhật kí có lợi gì cho sự phát triển ngôn ngữ của mình?

Gợi ý: 

+ HS trả lời tự nhiên và chân thực. Xin lưu ý: Không phải ai cũng thích ghi nhật kí, ngay cả với những nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học có tên tuổi. Tuy nhiên, thay vào đó, người ta có sổ ghi chép hay sổ nháp để ghi những con số, những suy nghĩ hay những ý tưởng ... riêng của mình.

+ Nhật kí hay sổ ghi chép đều rất có lợi cho sự phát triển ngôn ngữ của mỗi cá nhân, nhất là ngôn ngữ viết.

Bài tập 2-

a) Chỉ ra những dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt trong những câu ca dao (SGK).

Gợi ý:

+ Trong câu ca dao đầu: Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt là các từ: mình, ta (cách xưng hô thân mật, thường dùng trong khẩu ngữ).

+ Trong câu ca dao sau: Dấu hiệu của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt cũng là cách xưng hô thân mật: cô- anh. Ngoài ra còn có các từ ngữ nôm na, giản dị, gần với đời sống sinh hoạt hàng ngày: “yếm trắng loà xoà”, “đập đất, trồng cà”,...

b) Tập chuyển thành thơ lục bát (SGK).

HS tự luyện tập, chuyển lời nói hàng ngày thành văn vần thể lục bát.

Lưu ý rằng, nhiều người vẫn thường đặt câu theo lối văn vần thể lục bát một cách bình thường. Ví dụ:

“Yếm em có một đôi mèo,

Mải chơi đá bóng quên trèo cây cau”

(Lời một em bé 4 tuổi)

“Lớp ta có chị Lan lười

Hôm qua được tám chị cười cả đêm”

(Sưu tầm)

Chú ý: Tuy chưa yêu cầu HS làm được thơ hay, nhưng phải cố gắng suy nghĩ để câu thơ có ý nghĩa, thú vị.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:

+ Sự khác nhau giữa lời thoại trong đoạn trích Đam Săn với lời đối thoại trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở chỗ:

- Các từ ngữ: “Ơ tất cả dân làng này, các ngươi có đi với ta không?...”

- Cách diễn đạt cũng khác nhau, nhất là ở các vế đối.

+ Giải thích: Lời thoại trong đoạn trích chỉ mô phỏng, bắt chước hình thức của ngôn ngữ nói mà không phải ngôn ngữ nói. Nó đã thuộc về phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, tức đã được gọt giũa, cách điệu để đạt tới tính thẩm mĩ cao hơn.

TUẦN 15

ĐỌC VĂN:

TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG

(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1. Hiểu được cấu trúc, đặc trưng của thơ tứ tuyệt Đường luật: bốn câu, mỗi câu giữ một vị trí khác nhau. Thấy được vẻ đẹp của thơ tứ tuyệt Đường luật là "ý tại ngôn ngoại" (ý nằm ngoài lời).

2. Hiểu được vẻ đẹp ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ Lý Bạch: ngôn ngữ trong sáng, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi cảm.

3. Thấy được tình cảm chân thành, sâu sắc của nhà thơ dành cho bạn bè.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

1. Bài thơ giới thiệu không gian của chia ly: Lầu Hoàng Hạc là một nơi gắn liền với truyền thuyết Phí Văn Phi tu thành tiên, cưỡi hạc bay lên trời, không gian ấy gợi lên sự thanh cao, thoát tục. Đó là nơi Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên, một nhà thơ, một người bạn tâm đầu ý hợp. Dương Châu là nơi phồn hoa, đô hội, nơi buôn bán sầm uất. Sông Trường Giang trở thành điểm nối giữa hai không gian: nơi đi - nơi đến, đồng thời cũng là dòng sông - tâm tư nối liền hai người: kẻ ở - người đi.

- Thời gian được hiện lên trong hai câu đầu là "yên, hoa, tuyết, nguyệt" tháng ba - mùa hoa khói), "yên hoa" có thể hay là: hoa trong khói, cảnh đẹp mùa xuân, cảnh phồn hoa đô hội.

- Hình ảnh con người trong cuộc tiễn đưa ấy chính là "cố nhân" - bạn cũ, bạn tâm giao, bạn tri âm, tri kỷ. Cuộc chia tay giữ Lý Bạch với "cố nhân"  chính là cuộc chia tay với chốn đi về của lòng mình.

Mối quan hệ giữa không gian - thời gian  con người trong bài thơ đã có ý nghĩa rất quan trọng của khung cảnh mùa xuân tươi đẹp. Lý Bạch tiễn người bạn tri kỷ của mình từ nơi thanh cao, thoát tục đến chốn phồn hoa đô hội, gửi gắm trong đó còn là sự lo lắng, ngậm ngùi cho sự đơn lẻ của lòng mình.

2. Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên dòng sông chắc chắn phải tấp nập, nhiều thuyền bè đi lại, nhưng Lý Bạch chỉ nhìn "cô phàm" tức là một cảnh buồn lẻ loi, đơn chiếc. Hình ảnh ấy không còn là hình ảnh thực mà đã trở thành hình ảnh được tâm lý hoá. Tác giả đã nhìn hình ảnh cánh buồm bằng sự cô đơn cuảng lòng mình cũng như của chính Mạnh Hạo Nhiên. Đây là hình ảnh đồng điệu.

3. Bạn đã đi xa, cánh buồm chỉ còn là "nền ảnh" thấp thoáng như hư, như thực. Tiếp theo đó là một dòng sông chảy vào cõi trời - một khoảng không xanh biếc, rợn ngợp. Tất cả những hình ảnh ấy đều góp phần diễn tả cái nhìn dõi trông, sự dùng dằng, lưu luyến của kẻ ở - người đi. Tâm trạng của tác giả - người ở lại trở nên bàng hoàng, hẫng hụt.

Ghi nhớ: Bài thơ đã thể hiện tình cảm sâu sắc, chân thành của hai nhà thơ thời thịnh Đường. Qua bài thơ người đọc biết quý hơn tình cảm bạn bè - một tình cảm luôn tồn tại trong mọi thời đại.

II- LUYỆN TẬP

Bài tập 1- Những hình ảnh, từ ngữ thể hiện được vẻ đẹp "ý tại ngôn ngoại" của bài thơ:

- Thuyền [đưa bạn]xuôi về Dương Châu, giữa tháng ba mùa hoa khói.

- Bóng cánh buồm xa lẻ loi mất hút vào khoảng không xanh biếc.

Các hình ảnh trên đều hết sức có hồn, nhưng hình ảnh trong câu thơ cuối mới thật sự là “có thần”:

- “Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu” (Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi trời).

Bài tập 2- Vẻ đẹp của tình bạn luôn được thể hiện thành công trong thơ Đường mà bài thơ này có tính chất tiêu biểu. Trong cuộc sống hôm nay, tình bạn vẫn có ý nghĩa quan trọng, động viên con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Bài thơ có ý nghĩa giáo dục trong mọi thời đại.

Bài tập 3- Học thuộc lòng bài thơ (dịch) hiểu rõ phần phiên âm, đọc diễn cảm bài thơ (HS tự thực hiện).

TIẾNG VIỆT:

THỰC HÀNH PHÉP TU TỪ ẨN DỤ VÀ HOÁN DỤ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

- Hiểu được khái niệm ẩn dụ và hoán dụ.

- Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau của hai biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ.

- Có khả năng phân biệt và phân tích được tác dụng của hai phép tu từ trên.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- ẨN DỤ

Bài tập 1- (SGK)

Gợi ý:

a) Ở ví dụ (1): Thuyền - biển là hai hình ảnh luôn gắn bó với nhau. "Thuyền" gợi sự di chuyển, vận động, được dùng để chỉ hình ảnh con trai. "Biển" gợi sự cố định, phù hợp để chỉ hình ảnh người con gái với phẩm chất thuỷ chung.

Ở ví dụ 2: "Cây đa bến cũ" cũng là những hình ảnh gợi sự cố định, khó thay đổi. Còn "con đò" gợi sự vận động - di chuyển. Vì vậy, các hình ảnh "cây đa bến cũ" và "con đò" cũng chỉ hình ảnh những người có quan hệ, có tình cảm gắn bó nhưng phải xa nhau do hoàn cảnh khách quan.

b) Để hiểu được đúng nội dung hàm ẩn của hai câu ca dao trên, cần phải so sánh ngầm để tìm ra những điểm tương đồng giữa con người với các sự vật.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

1. Hai câu thơ của Nguyễn Du xuất hiện hai hình ảnh ẩn dụ:

- Quyên (chim cuốc) là ẩn dụ, vì được dùng như từ chỉ người. Tác dụng: miêu tả tiếng chim quyên gọi hè thêm sinh động và có hồn.

- Lửa lựu : từ “lửa” là ẩn dụ vì dùng để chỉ bông hoa đỏ. Tác dụng: miêu tả bông hoa lựu mùa hè thêm ấn tượng về màu sắc.

2. Ẩn dụ trong đoạn trích:

- Thứ văn nghệ ngòn ngọt, bay ra từ sự phè phỡn, thoả thuê hay cay đắng chất độc của bệnh tật, quanh quẩn vào tình cảm gày gò của cá nhân "co rúm lại". Chúng ta muốn có những cuốn tiểu thuyết, những câu thơ thay đổi được cả cuộc đời người đọc- làm thành người (từ in đậm của tác giả), đẩy chúng ta lên một sự sống trước kia chỉ nhìn, đứng nhìn xa thấp thoáng.

Trong đoạn trích, tác giả đã dùng các ẩn dụ để nói về chức năng văn nghệ một cách mạnh mẽ.

3. "Con chim chiền chiện" và “giọt [mưa xuân] long lanh rơi” là những ẩn dụ, mỗi sự vật nhỏ bé đều tượng trưng cho cuộc sống đáng yêu.

4. "Thác" là hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng cho những khó khăn, thử thách của cuộc đời và của cách mạng mà con người cần phải đối diện, phải vượt qua.

- "Chiếc thuyền" hình ảnh con người và nghị lực của con người.

Tác dụng: giúp cho việc thể hiện những khó khăn thêm sống động, mạnh mẽ, thể hiện con người và thái độ vượt khó của con người thêm sinh động.

5. "Phù du" là hình ảnh ẩn dụ, được dùng để diễn đạt những gì trôi nổi, phù phiếm không có giá trị. Đó chính là chặng đường thơ trước cách mạng của Chế Lan Viên.

- "Phù sa" hình ảnh nói về những gì có giá trị, làm cho dòng sông - cuộc đời trở nên màu mỡ. Đó là hình ảnh ẩn dụ để diễn đạt chặng đường thơ sau cách mạng của nhà thơ.

Tác dụng: giúp cho việc thể hiện chặng đường thơ thêm sinh động.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:

HS quan sát những sự vật xung quanh mình để viết những câu văn có ẩn dụ.

Tham khảo:

+ Cậu Cún nhà em năm nay đã học lớp 5 rồi.

+ Mẹ em nói rằng, các con còn phải gặp nhiều chông gai phía trước.

+ Hôm qua, bố em đi công tác xa về, trong nhà đầy ắp tiếng cười.

II- HOÁN DỤ

Bài tập 1- Đọc và trả lời các câu hỏi(SGK).

Gợi ý:

a) Dùng các cụm từ "đầu xanh", "má hồng" nhà thơ Nguyễn Du muốn nói đến những người trẻ tuổi, những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đó là cách nói nhằm thay thế cho nhân vật Thuý Kiều.

- "Áo nâu" - hình ảnh những người nông dân lao động ở nông thôn, "áo xanh" là hình ảnh những người công nhân ở thành thị.

b) Để hiểu được đúng đối tượng khi nhà thơ đã thay đổi tên gọi của đối tượng đó, cần phải dựa vào quan hệ gần nhau (tương cận) giữa hai sự vật hiện tượng.

Quan hệ gần nhau trong hai trường hợp trên là:

- Quan hệ giữa bộ phận với tổng thể, như đầu xanh, má hồng với cơ thể.

- Quan hệ giữa bên ngoài với bên trong, như áo nâu, áo xanh với người mặc áo...

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

Hai câu thơ có cả hai phép tu từ: ẩn dụ và hoán dụ.

- Hoán dụ là “thôn Đoài”, “thôn Đông” (Dùng thôn để nói người trong thôn: quan hệ giữa vật chứa và cái được chứa).

- Ẩn dụ là "cau" và "trầu không" dùng để nói đôi trai gái (Vì cau trầu dùng vào việc cưới hỏi, nên trong ngữ cảnh, chúng có mối tương đồng với đôi trai gái).

- Cùng nói về nỗi nhớ người yêu, nhưng câu thơ trên khác với câu ca dao “Thuyền ơi, có nhớ bến chăng...” ở chỗ: câu thơ Nguyễn Bính vừa có ẩn dụ, vừa có hoán dụ. Đồng thời, ẩn dụ trong câu thơ Nguyễn Bính kín đáo và “lấp lửng” hơn, phù hợp với việc diễn tả tình yêu chưa rõ rệt.

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:

HS quan sát sự vật, con người quen thuộc, sử dụng phép tu từ ẩn dụ hoặc hoán dụ để viết một đoạn văn về một sự vật, một nhân vật.

Tham khảo:

Nhà em nuôi một con mèo loang. Bố em gọi nó là Lang với ý chê nó là loang. Lang rất lười bắt chuột suốt ngày nằm lì trong ổ rơm. Một hôm, mẹ em đem về một con chuột đồng, gọi “meo, meo” và giơ lên cho nó nhìn thấy. Cậu chàng đang lim dim ngủ, thế mà sáng mắt, lập tức vọt ra khỏi ổ, nhảy phốc lên, hay chân trước vồ lấy con chuột từ tay mẹ em, động tác thật chính xác, rồi gầm gừ chạy ra tận góc vườn như sợ có kẻ nào ăn tranh. Con chuột nhỏ chỉ kịp kêu “chí, chí” vài tiếng là đã nằm gọn trong bụng mướp rồi. Ăn xong, khoái chí lắm, chạy lại gần mẹ em, mắt xanh lét nhìn lên tay chủ, miệng kêu “meo, meo” như muốn hỏi xem có còn chuột nào nữa không?

Từ đó trở đi, em thấy Lang không mấy khi nằm trong ổ rơm nữa.

TUẦN 16

ĐỌC VĂN:

CẢM XÚC MÙA THU

(Thu hứng - Đỗ Phủ)

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Qua bức tranh thu hiu hắt, HS nhận ra được tâm trạng của nhà thơ: nỗi buồn lo cho đất nước, nỗi nhớ quê hương và nỗi xót xa, ngậm ngùi cho thân phận mình.

2- HS hiểu thêm về thơ Đường luật, nghệ thuật thơ Đường luật của Đỗ Phủ (thơ thất ngôn bát cú).

3- Rèn luyện kĩ năng phân tích tác phẩm, khai thác được vẻ đẹp của bức tranh mùa thu qua thơ Đỗ Phủ.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Câu hỏi 1- (SGK)

Gợi ý:

- Dựa vào đặc trưng của thơ Đường, có thể chia bài thơ thành 4 phần: đề (1,2); thực (3,4); luận (5,6); kết (7,8).

- Dựa vào nội dung của bài thơ, có thể  chia thành 2 phần:

+ 4 câu đầu: Bức tranh phong cảnh mùa thu.

+ 4 câu sau: Tâm trạng của nhà thơ.

Câu hỏi 2- (SGK)

Gợi ý:

Bài thơ có sự thay đổi tầm nhìn từ cao xuống thấp, từ xa đến gần, phù hợp với mạch cảm xúc. Bốn câu đầu là bức tranh thiên nhiên, ở đó xuất hiện các hình ảnh: sương, núi, gió thu, dòng sông, những đám mây in hình dưới mặt đất. Nhưng đến bốn câu thơ sau, mặc dù vẫn xuất hiện các hình ảnh thiên nhiên như: khóm cúc, con thuyền..., nhưng những hình ảnh ấy được miêu tả như một cái cớ để thể hiện cảm xúc, nội tâm của tác giả: nỗi buồn, nỗi nhỡ quê hương. Nỗi buồn ấy được hiện lên đậm nét qua hình ảnh: "tiếng chày đập áo". Sự thay đổi của tầm nhìn ấy là dụng ý của tác giả trong việc thể hiện cảm xúc: sự vận động từ "cảnh" đến "tình".

Câu hỏi 3- (SGK)

Gợi ý:

Mối quan hệ giữa 4 câu đầu và 4 câu sau là mối quan hệ giữa "cảnh" và "tình". Qua thiên nhiên và tâm trạng nhà thơ, mối quan hệ ấy hoàn toàn phù hợp với tên của bài thơ "Thu hứng". Hoá ra, mùa thu chỉ là yếu tố gợi hứng, gợi lên những xúc cảm để qua đó nhà thơ kín đáo gửi gắm nỗi thương nhớ quê hương vời vợi của tác giả ở nơi đất khách quê người trong thời loạn lạc.

Sự vận động từ "cảnh" đến "tình" hoàn toàn hợp lý những vẫn hết sức bất ngờ.

II- LUYỆN TẬP

Bài tập 1- (SGK)

Gợi ý:

Chữ "lệ" trong câu thơ thứ 5 phải được hiểu theo cả hai nghĩa:

- Nghĩa cụ thể: sương đêm rơi xuống khóm hoa cúc, giống như những giọt nước mắt.

- Nghĩa biểu tượng: chữ "lệ" là nước mắt của chính nhà thơ. Đây chính là biện pháp mượn cảnh ngụ tình: hình ảnh hoa cúc nhỏ lệ cũng giống như nước mắt u hoài của người xa quê.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

Giữa phần phiên âm, dịch nghĩa và bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ có một vài chữ, vài hình ảnh chưa thật sát:

- Câu 1: "Sương móc trắng xoá làm tiêu điều cả rừng phong" được Nguyễn Công Trứ dịch là "Lác đác rừng phong hạt móc sa”. Câu thơ dịch chưa thể hiện được hình ảnh sương dày đặc cả cánh rừng. Từ "lác đác" trong bản dịch thơ chỉ mới gợi lên sự thưa thớt, ít ỏi.

- Câu 7: "cô chu" được dịch là "con thuyền", bỏ mất chữ “” làm mất đi sự lẻ loi, cô độc.

Bài tập 3-

Học thuộc lòng (cả phần phiên âm, dịch nghĩa bài thơ).

HS lưu ý luyện cách đọc diễn cảm bài thơ.

LÀM VĂN:                 TRÌNH BÀY MỘT VẤN ĐỀ

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- HS hiểu được thế nào là trình bày một vấn đề; nắm được yêu cầu và cách thức trình bày một vấn đề.

2- HS luyện tập để có khả năng trình bày một vấn đề trước tập thể, tạo sự thuyết phục với người nghe.

B- GỢI Ý LÀM BÀI TẬP PHẦN LUYỆN TẬP

Bài tập 1- Khi trình bày một vấn đề thông thường phải đi qua ba bước: bắt đầu trình bày - trình bày nội dung chính, kết thúc và cảm ơn. Dựa vào cấu trúc này chúng ta có thể sắp xếp lại:

Gợi ý:

1- Các câu sau tương ứng với phần Bắt đầu trình bày:

- Chào các bạn! cảm ơn các bạn đã tới đây. Xin tự giới thiệu, tên tôi là .... ............................................ làm việc ở cơ quan...................................................

- Chào các bạn! tôi rất phấn khởi được đến đây phục vụ các bạn. Tôi tên là...........................................

- Trước khi bắt đầu, cho phép tôi được nói đôi điều về bản thân. Tôi đã làm việc ở Công ty.......................trong ...........năm........

2- Câu sau tương ứng với phần Trình bày nội dung chính:

- Giờ chúng ta hãy đi vào nội dung chính của đề tài. Thứ nhất...

3- Các câu sau tương ứng với phần Chuyển qua chủ đề khác:

- Để xem xét tất cả các phương án có thể, chúng ta hãy chuyển sang phân tích những thuận lợi và khó khăn của từng phương án.

- Giờ chúng ta chuyển sang vấn đề môi trường. Như các bạn đã biết, chúng ta đã tận lực để đảm bảo công việc xử lý phế thải....

4- Các câu sau tương ứng với phần Kết thúc và cảm ơn:

- Tôi muốn kết thúc bằng cách nhắc lại đôi điều đã nêu lên lúc mở đầu.

- Giờ tôi sắp kết thúc bài nói và đến đây một lần nữa, lướt qua những điều chính đã nêu...

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

Dự kiến các nội dung cần trình bày:

a) Nét thanh lịch trong ứng xử hàng ngày.

- Ứng xử hàng ngày trong đời sống cộng đồng có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo nên quan hệ giữa người với người.

- Sự ứng xử phải thể hiện được nét thanh lịch.

- Thế nào là nét thanh lịch trong ứng xử:

+ Qua thái độ, nét mặt, cử chỉ.

+ Qua lời nói, sự chân thành.

+ Qua sự am hiểu đối tượng...

- Làm thế nào để tạo được nét đẹp thanh lịch trong ứng xử.

b) Nghệ thuật gây thiện cảm.

- Qua cách nói năng, sự giao tiếp.

- Qua cử chỉ, hành động.

- Qua vốn hiểu biết về đối tượng giao tiếp.

- Qua vốn văn hoá....

c) Thần tượng của tuổi học trò.

- Thế nào là thần tượng?

- Biểu hiện của sự thần tượng ở tuổi học trò.

+ Sự ngưỡng mộ về một nhân vật nổi tiếng.

+ Sự bắt chước làm theo thần tượng.

d) Giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp.

- Vai ttrò của môi trường đối với cuộc sống của con người.

- Các biện pháp giữ gìn môi trường....

e) An toàn giao thông là hạnh phúc của mỗi người.

- Thực tế về thảm hoạ vi phạm giao thông hiện nay.

- Nguyên nhân dẫn đến những thảm hoạ về an toàn giao thông.

+ Sự coi tường tính  mạng và pháp luật.

+ Ý thức về luật lệ giao thông kém.

- Cách khắc phục, giữ an toàn giao thông...

Bài tập 3- (SGK)

Gợi ý:

Có thể dựa trên các nội dung chính ở các vấn đề đã nêu ở bài tập 2, từ đó chuẩn bị và trình bày trước lớp. Lưu ý chọn lựa cách giới thiệu, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói. Trước khi trình bày cần tìm hiểu trình độ, yêu cầu, tâm lý, sở thích của người nghe...

LÀM VĂN:                    TRẢ BÀI LÀM VĂN SỐ 3

YÊU CẦU

1- Sau bài học này, HS nắm vững kĩ năng làm văn tự sự, biết kể lại, thuật lại một cách trung thực và có sáng tạo hợp lí những câu chuyện đã đọc, đã học hoặc những câu chuyện trong thực tế cuộc sống. Trong khi kể, HS biết miêu tả và biểu cảm khi cần thiết.

2- HS tự rút kinh nghiệm thông qua điểm số, tham khảo bài của các bạn khá hơn và theo dõi nhận xét của GV.

TUẦN 17

LÀM VĂN:              LẬP KẾ HOẠCH CÁ NHÂN

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Hiểu được tác dụng của việc lập kế hoạch cá nhân trong công việc, trong các hoạt động của đời sống hàng ngày.

2- Nắm được cách lập kế hoạch cá nhân.

3- Có thói quen và có kĩ năng lập kế hoạch cá nhân và thực hiện kế hoạch cá nhân.

B- GỢI Ý LÀM  BÀI TẬP

Bài tập 1- (SGK)

Gợi ý:

Đây là thời gian biểu chứ chưa phải bản kế hoạch cá nhân, vì chưa có phần tiêu đề. Phần nội dung chỉ mới nêu những công việc cần làm ứng với các mốc thời gian, chưa có phương hướng, địa điểm cũng như chưa dự kiến kết quả cần đạt được.

Bài tập 2- (SGK)

Gợi ý:

Bản kế hoạch còn quá sơ sài. Chưa ghi rõ thời gian, địa điểm, nội dung công việc.

Có thể hoàn thành bản kế hoạch cá nhân này như sau:

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

KẾ HOẠCH CHUẨN BỊ ĐẠI HỘI CHI ĐOÀN

- Thời gian:        8 giờ 00, ngày 25/12/2006.

- Địa điểm: Phòng học của lớp.

- Nội dung công việc:

TT

Tên công việc

Yêu cầu

cần đạt

Thời gian hoàn thành

Ghi chú

1

Viết dự thảo báo cáo

Báo cáo tổng kết và dự thảo phương hướng

 

20/ 12

Nhớ rút ra bài học kinh nghiệm

2

Họp ban tổ chức

Phân công chuẩn bị

21/12

3

Đại hội trù bị trù bị

Bầu BCH mới và thông qua báo cáo

22/12

4

Xin ý kiến Đoàn trường

Về phương hướng hoạt động

23/12

5

Xin ý kiến GV chủ nhiệm lớp

Về phương hướng hoạt động

23/12

6

Phân công nhiệm vụ các thành viên ban tổ chức

Phân công chính thức công việc

24/12

Chú ý giấy mời

7

Tiến hành đại hội

25/12

Người lập kế hoạch

BT chi đoàn

  Nguyễn Thị Quế

Bài tập 3-(SGK)

Gợi ý:

Có thể lập kế hoạch giúp bạn theo mẫu sau:

KẾ HOẠCH THAM GIA KHÓA ĐÀO TẠO TIN HỌC

Họ và tên: Nguyễn Văn Thành

Nội dung công việc:

- Ghi tên đăng ký dự khoá học:  Sáng thứ 2, ngày 12 /10 / 2006.

- Sắp xếp thời gian biểu hợp lý để việc học nghề không ảnh hưởng đến chương trình học chính khoá.

THỜI GIAN BIỂU

Sáng

(7h-11 h00)

Trưa

(11 h00- 13h00)

Chiều

(13 h- 17h00)

Tối

(17h-21h00)

Thứ 2

Học chính khoá

Nghỉ

Tự học bài chính khóa

Thực hành tin học

Thứ 3

Học chính khoá

Nghỉ

Học thêm tiếng Anh

Tự học bài chính khóa

Thứ 4

Học chính khoá

Nghỉ

Học lớp tin học

Thực hành tin học

Thứ 5

Học chính khoá

Nghỉ

Học thêm tiếng Anh

Tự học bài chính khóa

Thứ 6

Học chính khoá

Nghỉ

Tự học bài chính khóa

Tự học bài chính khóa

Thứ 7

Học chính khoá

Nghỉ

Học lớp tin học

Thực hành tin học

Chủ nhật

Học thêm tiếng Anh

Nghỉ

Học lớp tin học

Thực hành tin học

TUẦN 18

LÀM VĂN:    

CÁC HÌNH THỨC KẾT CẤU CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1- Ôn tập lại những kiến thức cơ bản về văn thuyết minh.

2- Nắm được những hình thức kết cấu chủ yếu của văn thuyết minh.

3- Xây dựng được kết cấu văn bản phù hợp với đối tượng thuyết minh.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu a- Xác định đối tượng và mục đích thuyết minh của 2 văn bản (SGK).

Gợi ý:

+ Đối tượng:

- Trong văn bản "Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân": người viết tập trung thuyết minh về một hiện tượng, một nếp sống văn hoá của dân tộc Việt Nam, cụ thể là hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân - một làng ở xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng, Hà Nội.

- Trong văn bản "Bưởi Phúc Trạch", người viết tập trung thuyết minh về bưởi Phúc Trạch và giá trị của bưởi Phúc Trạch, một loại quả nổi tiếng đã từng được xếp vào hàng "Quả ngon xứ Đông Dương".

+ Mục đích:

- Trong văn bản "Hội thi thổi cơm ở làng Đồng Vân", người viết tập trung thuyết minh giúp người đọc hiểu được quy trình của hội thi thổi cơm, cách thức thổi cơm thi, cách đánh giá của Ban giám khảo. Từ đó, văn bản cũng giúp người đọc ý thức được những nét đặc sắc và gìn giữ những nét đẹp cổ truyền trong sinh hoạt văn hoá thời hiện đại.

- Văn bản"Bưởi Phúc Trạch" giúp người đọc hình dung đặc điểm, hương vị của loại bưởi nổi tiếng- bưởi Phúc Trạch, giúp bạn đọc thấy được công dụng của loại bưởi này từ xưa đến nay.

Câu b- (SGK).

Gợi ý:

Các ý chính tạo thành nội dung của từng văn bản:

+ Văn bản "Hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân" được cấu tạo dựa trên các ý chính sau:

- Thời gian tổ chức hội thổi cơm thi.

- Diễn biến và cách thức tiến hành của các đối tượng tham gia hội thi.

- Cách đánh giá về kết quả của các nồi cơm tham gia hội thi.

- Ý nghĩa của hội thi.

+ Văn bản "Bưởi Phúc Trạch" được hình thành từ các ý sau:

- Giới thiệu về hình dáng, màu sắc của loại bưởi Phúc Trạch.

- Cách thức gọt bưởi và đặc điểm của những múi bưởi Phúc Trạch.

- Công dụng, giá trị của bưởi Phúc Trạch.

Câu c- (SGK).

Gợi ý:

Cách sắp xếp ý của từng văn bản và giải thích cơ sở của nó:

+ Văn bản “Hội thổi cơm thi ở làng Đồng Vân”:

- Cách sắp xếp các ý theo trình tự thời gian, từ quá trình bắt đầu cho đến khi kết thúc cuộc thi thổi cơm.

- Cơ sở: dựa vào nội dung của văn bản (có nhiều yếu tố tự sự). Cách xắp sếp này giúp người đọc hình dung được toàn bộ diễn biến của quá ttrình thi thổi cơm.

+ Văn bản "Bưởi Phúc Trạch":

- Cách sắp xếp theo trình tự hỗn hợp: trình bày, miêu tả (từ đặc điểm bên ngoài, như hình dáng, vỏ, màu sắc..., đến đặc điểm bên trong, như múi bưởi, hương vị..., rồi tiếp đến công dụng, như tăng thêm sức khoẻ...

- Cơ sở: dựa vào nội dung của văn bản (miêu tả). Cách xắp sếp này giúp người đọc hình dung được đầy đủ các đặc điểm, tính chất...của bưởi Phúc Trạch.

Câu d-  Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh (SGK).

Gợi ý:

Xem mục ghi nhớ trong SGK.

Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh bao gồm:

- Kết cấu theo trình tự thời gian.

- Kết cấu theo trình tự không gian.

- Kết cấu theo trình tự lô-gíc.

- Kết cấu theo trình tự hỗn hợp...

II- LUYỆN TẬP

Bài tập1-(SGK).

Gợi ý:

Khi thuyết minh bài "Tỏ lòng" (Phạm Ngũ Lão) nên chọn hình thức kết cấu hỗn hợp. Kiểu kết cấu này phù hợp với tác phẩm, giúp người đọc hiểu được nội dung nghệ thuật, giá trị tư tưởng của nó. Các ý chính::

+ Giới thiệu về tác giả.

+ Thuyết minh về thời điểm ra đời bài thơ.

+ Nội dung của bài thơ:

- Câu 1, 2: niềm tự hào về mình và quân đội của mình.

- Câu 3, 4: khát vọng lập công trả nợ công danh của tác giả.

+ Vẻ đẹp của từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu bài thơ.

Bài tập2-(SGK).

Gợi ý:

- Khi giới thiệu một di tích, một thắng cảnh của đất nước, có thể dựa trên các nội dung sau:

+ Địa điểm, nguồn gốc lịch sử của di tích.

+ Miêu tả vẻ đẹp của di tích.

+ Ý nghĩa, giá trị của di tích.

- Có thể sắp xếp theo trình tự như trên, nhưng khi miêu tả vẻ đẹp của di tích, có thể sắp xếp theo trình tự không gian: xa - gần, ngoài - trong...

LÀM VĂN:            LẬP DÀN Ý BÀI VĂN THUYẾT MINH

A- KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

HS biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng về văn thuyết minh để lập được dàn ý cho một bài văn thuyết có đề tài quen thuộc...

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- ÔN VỀ DÀN Ý

Câu 1- Nhắc lại bố cục ba phần của một bài làm văn và nhiệm vụ của mỗi phần.

Gợi ý:

HS nhớ lại kiến thức đã học ở THCS về bố cục bài làm văn nói chung.

Bài làm văn có bố cục 3 phần:

+ Mở bài: Giới thiệu nội dung bài viết (Thuỷ theo từng thể loại mà xác định nội dung cần giới thiệu).

+ Thân bài: Lần lượt thực hiện các yêu cầu trọng tâm: kể chuyện, biểu cảm, miêu tả hay nghị luận...

+ Kết bài: Khái quát vấn đề hay nêu cảm xúc, suy nghĩ trước câu chuyện kể hoặc đối tượng miêu tả.

Câu 2- Bố cục ba phần có phù hợp với đặc điểm của bài văn thuyết minh không? Vì sao?

Gợi ý:

Bố cục ba phần vẫn phù hợp với bài văn thuyết minh, vì ngoài thân bài (phần nội dung trung tâm của thuyết minh), văn bản thuyết minh vẫn cần có mở và kết. Tuy nhiên, văn bản này cũng có dấu hiệu đặc thù cho mỗi phần.

Câu 3- Mở bài và kết bài văn bản tự sự giống và khác so với văn thuyết minh thế nào?

Gợi ý:

+ Mở bài trong văn bản tự sự yêu cầu giới thiệu thời gian, địa điểm xảy ra câu chuyện, giới thiệu nhân vật chính, góc nhìn (người chứng kiến)...

Mở bài trong văn thuyết minh giới thiệu đối tượng, mục đích thuyết minh.

Như vậy, điểm giống nhau là: cùng có chức năng giới thiệu.

Tuy nhiên, cách giới thiệu trong văn thuyết minh linh hoạt hơn, có khi rất ngắn, chỉ gồm 1, 2 câu.

+ Kết bài trong văn tự sự đôi khi cũng gắn với thân bài, vì sau khi giải quyết vấn đề (mở nút xung đột) là câu chuyện đã kết thúc rồi. Trong bài làm của HS hay trong một số sáng tác còn có phần cuối, dùng để nêu suy nghĩ và cảm xúc, song cách kết thúc như vậy có phần nào gượng ép.

Kết bài trong văn thuyết minh đôi khi không nhận thấy được: nó đồng thời là phần cuối của nội dung thuyết minh. Chừng nào người đọc cảm thấy đã thoả mãn, thì chừng ấy, bài văn thuyết minh cũng kết thúc.

Như vậy, kết bài trong văn tự sự và văn thuyết minh có những điểm giống nhau: chúng biến hóa năng động và nhiều khi chỉ là phần cuối của nội dung chính.

Tất nhiên, 2 cách kết bài này cũng có những điểm khác nhau: văn tự sự cần kết thúc bằng hình tượng, để sau khi kết thúc vẫn mở ra những suy nghĩ, tình cảm mới trong lòng độc giả; còn văn thuyết minh cần kết thúc bằng lí lẽ đầy sức thuyết phcụ để sau khi kết bài, người đọc có thể dẫn tới suy nghĩ hay hành động.

Câu 4- Các trình tự sắp xếp ý (cho phần thân bài) dưới đây (SGK) có phù hợp với văn bản thuyết minh không? Vì sao?

Gợi ý:

Ba loại trình tự đầu ít hoặc không phù nhợp với văn bản thuyết minh. Vì:

- Trình tự thời gian phù hợp với văn tự sự hơn.

- Trình tự không gian phù hợp với văn miêu tả hơn.

- Trình tự nhận thức: phù hợp với văn nghị luận hơn.

Riêng trình tự chứng minh- phản bác có thể được vận dụng phù hợp với văn thuyết minh.Vì: trong văn thuyết minh rất cần phải lập luận để thuyết phục người nghe (người đọc).

II- LUYỆN TẬP TẠI LỚP

Đọc mục II (SGK) và trả lời câu hỏi:

Câu 1- Xác định đề tài...

HS đọc mục 1. (SGK) và trình bày dự định (những ý chính) cho bài viết thực hiện một trong hai yêu cầu trong SGK.

Gợi ý:

Yêu cầu 1- Giới thiệu Anh-xtanh.

Tham khảo:

“Trong số những nhà khoa học vĩ đại đã mang đến cho nhân loại một bức tranh vũ trụ mới và đã có công cải tạo thế giới tự nhiên, An- be Anh-xtanh là một, nếu không nói là nhà sáng tạo về khoa học tự nhiên vĩ đại nhất của nửa đầu thế kỉ XX.

... Những công trình của Anh-xtanh đã đạt tới đỉnh cao nhất của nền vật lí học hiện đại, những công trình mà người ta chỉ có thể diến đạt được trọn vẹn với một công cụ toán học tối tân, đồ sộ...

Anh-xtanh không chỉ là nhà khoa học, ông còn là một con người yêu chuộng chân lí và chính nghĩa. Ông đã thấy trách nhiệm của mình trước xã hội và đã đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa đế quốc.

Không chỉ có thế, Anh-xtanh còn là hình ảnh của sự trong sáng về tâm hồn, một con người khinh miệt đến cùng cực cái hung bạo, những tham vọng tầm thường.

Con người Anh-xtanh là một sự nhất trí hiếm có giữa cái trong sáng về tâm hồn và cái trong sáng về tư duy.

Trên đây là những điểm chính mà chúng tôi muốn nhấn mạnh về Anh-xtanh”.

(Theo Nguyễn Hoàng Phương- Lời giới thiệu cuốn An-be Anh-xtanh, NXB. Giáo dục. Hà Nội, 1996).

Yêu cầu 2- Giới thiệu một danh nhân đất Việt.

HS tự chọn một danh nhân mà mình yêu thích để giới thiệu. Có thể dựa trên bài viết khái quát về Nguyễn Trãi, Nguyễn Du trong SGK, hoặc dựa trên các sách tham khảo để viết về các nhân vật như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Hoài Văn Trần Quốc Toản, nhà sử học Lê Văn Hưu...

Câu 1- Xây dựng dàn ý...

a- Mở bài (Câu hỏi trong SGK):

 Gợi ý:

- Để nêu được đề tài bài viết (như giới thiệu về danh nhân nào, tác giả nào, nhà khoa học nào?...) cần gọi tên đề tài và đưa ra đặc điểm nổi bật của nó.

- Để người đọc nhận ra kiểu văn bản (thuyết minh), cần sử dụng các ngôn từ đặc trưng của thuyết minh hoặc nêu trực tiếp mục đích thuyết minh.

- Để thu hút sự chú ý của người đọc, cần trình bày trung thực, hấp dẫn.

b- Thân bài:

- Muốn tìm ý, chọn ý, cần lựa chọn những tri thức, xem xét độ chính xác và tầm quan trọng của mỗi thông tin đối với bạn đọc...

- Muốn sắp xếp ý, cần nghiên cứu cấu trúc của bài viết một cách phù hợp, sao cho trật tự trước sau , trật tự lô-gíc...giữa các ý tạo ra vẻ đẹp cân xứng và có ý nghĩa.

c- Kết bài:

-Muốn trở lại với đề tài thuyết minh, cần khái quát toàn bộ nội dung đã thuyết minh trong phần thân bài, dùng câu văn liên kết để chuyển ý, chuyển đoạn.

- Muốn lưu lại những suy nghĩ và cảm xúc lâu bền trong lòng độc giả, cần có những từ ngữ ấn tượng, lịch sự, xã giao... trong kết thúc bài.

Luyện tập:

Xây dựng dàn ý cho các đề văn thuyết minh.

Đề 1- Giới thiệu một tác giả văn học.

Tham khảo:

a- Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi (1380-1444).

- Vị trí của Nguyễn Trãi trong nền văn học.

b- Thân bài:

- Một vài nét về cuộc đời của Nguyễn Trãi.

- Sự nghiệp văn học của Nguyễn Trãi:

+ Các tác phẩm chính.

+ Nội dung thơ văn của Nguyễn Trãi.

+ Giá trị nghệ thuật thơ văn Nguyễn Trãi.

c- Kết luận: Khẳng định vị trí về tư tưởng cũng như về văn học của Nguyễn Trãi trong lịch sử văn hóa văn học Việt Nam.

Đề 2- Giới thiệu một tấm gương học tốt.

a- Mở bài: Giới thiệu một số nét chính về tấm gương học tốt: tên, nơi học tập...

b- Thân bài:

- Hoàn cảnh sống.

- Những thành tích nỗi bật về học tập.

- Phương pháp học của bạn.

c- Kết bài: Nêu cảm nghĩ, nhận xét của mình về tấm gương học tốt.

Đề 3- Giới thiệu một phong trào của trường (lớp) mình.

a- Mở bài:

- Giới thiệu về lớp, về trường mình.

- Giới thiệu về các hoạt động nổi bật của lớp (của trường) mình. (Ví dụ: phong trào học tập, phong trào văn nghệ, phong trào thể dục - thể thao).

b- Thân bài:

- Nguyên nhân dẫn đến phong trào.

- Diễn biến của phong trào

+ Bắt đầu.

+ Phát triển .

+ Kết quả.

- Ý nghĩa của phong trào.

c- Kết luận:

- Khẳng định lại về sự tác động của phong trào trong lớp (trường).

- Những bài học rút ra từ phong trào.

Đề 4- Trình bày các bước của một quá trình học tập (hoặc một quy trình sản xuất).

a- Mở bài: Giới thiệu về việc đọc một tác phẩm tự sự.

b- Thân bài:

+ Nêu các bước của việc đọc một tác phẩm tự sự:

- Đọc từng phần.

- Đọc kết hợp với suy ngẫm.

- Chú ý đến sự phát triển của các tuyến nhân vật và mối quan hệ của các nhân vật trong tác phẩm.

- Tóm tắt tác phẩm.

- Tìm ra nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

+ Ý nghĩa của việc đọc một tác phẩm tự sự.

c- Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa và cách thực đọc một tác phẩm tự sự.

 TUẦN 19 2

ĐỌC VĂN:

BÀI PHÚ SÔNG BẠCH ĐẰNG

Trương Hán Siêu

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1. Bài phú sông Bạch Đằng là dòng hoài niệm và suy ngẫm về chiến công lịch sử oanh liệt của người xưa. Bài phú đã tái hiện lại không khí chiến thắng hùng tráng của những trận đánh trên sông Bạch Đằng. Qua đó tác giả thể hiện tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về một dân tộc có tinh thần ngoan cường, bất khuất, mưu lược, tài trí, đồng thời cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí của con người.

Bài phú sử dụng hình ảnh điển tích có chọn lọc, kết hợp trữ tình hoài cổ với tự sự tráng ca, thủ pháp liên ngâm, hình thức đối đáp tạo nên những nét đặc sắc về nghệ thuật. Đặc biệt là sự sáng tạo hình tượng nhân vật khách (đại diện cho hiện tại) và nhân vật các bô lão (chứng nhân lịch sử), đồng thời trong mỗi nhân vật đều có sự phân thân của cái tôi tác giả- một cái “tôi-tráng sĩ” có tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử, với đất nước.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu một tác phẩm văn học trung đại viết theo lối phú cổ thể, kĩ năng phân tích những thủ pháp nghệ thuật có giá trị cao trong việc biểu hiện nội dung tư tưởng tác phẩm.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Hướng dẫn học bài:

 Bài tập - Nêu vị trí của chiến thắng Bạch Đằng trong lịch sử và đề tài Bạch Đằng trong văn học. Nêu bố cục Bài phú sông Bạch Đằng và tìm hiểu một số từ khó, điển tích, điển cố.

 Gợi ý: 

- Đọc kĩ tiểu dẫn để hiểu về con sông Bạch Đằng và những chiến công của cha ông. Đó là một nhánh sông Kinh Thầy đổ ra biển nằm giữa Quảng Ninh và Hải Phòng. Nơi đây, Ngô Quyền đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán, bắt sống Hoằng Thao, năm 1288, nhà Trần tiêu diệt giặc Mông- Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi.

- Bạch Đằng giang là nguồn cảm hứng bất tận cho các tác giả viết nên những áng văn thơ tuyệt tác như Bạch Đằng giang của Trần Minh Tông; Bạch Đằng giang của Nguyễn Sưởng; Bạch đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi; Hậu Bạch đằng giang phú của Nguyễn Mộng Tuân...

- Bố cục một bài phú thường có bốn đoạn: đoạn mở, đoạn giải thích, đoạn bình luận và đoạn kết. Bố cục Bài phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu cũng giống bố cục của một bài phú nói chung.

- Đọc kĩ chú thích để hiểu nghĩa của những từ khó, các điển tích, điển cố như: Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Đầm Vân Mộng, Tử Trường, Hợp Phì, Xích Bích...   

Bài tập 2. Nhận xét về nhân vật "khách” trong đoạn 1? (Mục đích dạo chơi thiên nhiên, chiến địa của "khách”? Đặc điểm địa danh lấy trong điển cố Trung quốc và đặc điểm địa danh của đất Việt có gì giống và khác nhau? Qua những địa danh ấy, "khách” là người có "tráng chí” (chí lớn), có tâm hồn như thế nào?).

Gợi ý: 

Đọc kỹ chú thích từ "khách”, đọc kỹ đoạn văn bài phú, phân tích các hình ảnh liệt kê về không gian rộng lớn, thời gian liên hoàn và ngữ điệu trang trọng qua các từ "chừ” nhấn mạnh ngắt nhịp trong các câu từ "Giương buồm giong gió chơi vơi” đến "Tam Ngô, Bánh Việt”. Từ đó nhận xét về nhân vật “khách”:

- "Khách” là người mang tính cách tráng sĩ phóng khoáng, mạnh mẽ đồng thời cũng là một "tao nhân mặc khách" ham thích du ngoạn, đi nhiều, biết rộng, làm bạn với gió trăng, qua nhiều miền sông bể.

- "Khách” tìm đến những địa danh lịch sử (đặc biệt là Bạch Đằng) để ngợi ca và suy ngẫm.

- Nhân vật "khách” tuy có tính chất công thức của thể phú song với ngòi bút tài hoa, Trương Hán Siêu đã thổi hồn vào thành một nhân vật sinh động. "Khách” chính là cái tôi tác giả - một con người mang tính cách tráng sĩ với tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử đất nước.

- Cái tráng chí bốn phương của nhân vật "khách” (cũng là của tác giả) được gợi lên qua những địa danh. “Khách” đã "đi qua" hai loại địa danh, loại địa danh lấy trong điển cố Trung Quốc (Nguyên, Tương, Vũ Huyệt, Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt...) và loại địa danh của đất Việt (Cửa Đại Than, bến Đông Triều, sông Bạch Đằng...). Loại địa danh thứ nhất thể hiện tráng chí bốn phương, loại địa danh thứ hai mang tính cụ thể, đương đại thể hiện tình yêu đất nước, tâm hồn ưu ái đối với cảnh trí non sông.

Bài tập 3. Cảm xúc của "khách” trước khung cảnh thiên nhiên sông Bạch Đằng là phấn khởi, tự hào hay buồn thương tiếc nuối? Hãy lí giải.

Gợi ý

Trước hình ảnh Bạch Đằng "Bát ngát sóng kình muôn dặm”, "thướt tha đuôi trĩ một màu” với "nước trời...”, "phong cảnh ...”, "bờ lau...”, "bến lách...”...Khách” có tâm trạng vui buồn lẫn lộn, vui vì tự hào trước lịch sử oai hùng của dân tộc nhưng buồn vì tiếc nuối xót thương những anh hùng đã khuất. Đây là một nỗi buồn cao đẹp đầy tính nhân văn. Giọng văn trở nên man mác, bâng khuâng.

Bài tập 4. Nhận xét về nhân vật các bô lão và câu chuyện họ kể trong đoạn 2 (Vai trò của hình tượng các bô lão? Chiến tích trên sông Bạch đằng đã được gợi lên như thế nào qua lời kể của họ? Thái độ, giọng điệu của họ trong khi kể chuyện?).

Gợi ý: 

- Nếu ở đoạn 1, nhân vật "khách” là cái tôi nhà văn thì đến đoạn 2   nhân vật các bô lão là hình ảnh của tập thể vừa đại diện cho nhân dân địa phương, vừa là chứng nhân của lịch sử đồng thời cũng có sự phân thân của tác giả. Nhà văn tạo ra nhân vật các bô lão nhằm tạo nên những nhân vật có tính lịch đại để có được sự đối đáp tự nhiên từ đó dựng lên những trận thuỷ chiến Bạch Đằng (qua lời kể của các bô lão)

- Các bô lão kể chuyện xưa với ngôn từ sống động, lời lẽ trang trọng gợi nên cảm hứng lịch sử với âm điệu hào hùng. Những kỳ tích trên sông được tái hiện qua cách liệt kê sự kiện trùng điệp, các hình ảnh đối nhau bừng bừng không khí chiến trận với thế giằng co quyết liệt. Đây là chiến trận từ thời Ngô Quyền đến Trần Hưng Đạo nhưng trọng tâm là chiến thắng "buổi trùng hưng”... với trận thuỷ chiến ác liệt, dòng sông nổi sóng ("Muôn đội thuyền bè tinh kỳ phấp phới”), khí thế "hùng hổ", "sáng chói", khói lửa mù trời, tiếng gươm khua, tiếng quân reo khiến "ánh nhật nguyệt chừ phải mờ/Bầu trời đất chừ sắp đổi”. Trận đánh "kinh thiên động địa" được tái hiện bằng những nét vẽ phóng bút khoa trương rất thần tình. Âm thanh, màu sắc, trực cảm, tưởng tượng được tác giả vận dụng phối hợp góp phần tô đậm trang sử vàng chói lọi của dân tộc.

- Những hình ảnh điển tính được sử dụng một cách chọn lọc, phù hợp với sự thật lịch sử (Xích Bính, Hợp Phì, gieo roi...). Điều đó đã góp phần diễn tả tài đức của vua tôi nhà Trần và chiến thắng Bạch Đằng như một bài thơ tự sự đậm chất hùng ca.

- Kết thúc đoạn 1, tác giả viết: "Đến sông đây chừ hổ mặt/ Nhớ người xưa chừ lệ chan". Đây vẫn là lời các bô lão nhưng nghe trong đó có giọng của "khách” (tác giả). Niềm cảm hoài của các bô lão gặp niềm sững sờ buồn tiếc của khách tạo nên sự cộng hưởng của cái tôi tác giả.

Bài tập 5- Phân tích đoạn 3 để thấy được ý nghĩa lời ca của các bô lão và lời ca nối tiếp của “khách”.

Gợi ý: 

Đoạn 3 của bài phú chứa nhiều suy ngẫm có tính triết lý. Lời ca của các bô lão mang âm hưởng của dòng sông sử thi, dòng sông cuộc đời, tất cả cứ tha thiết chảy ngày đêm. Một chân lý vĩnh cửu cũng chảy mãi như dòng sông: bất nghĩa thì tiêu vong, anh hùng thì lưu danh thiên cổ. Lời nối tiếp của “khách” có ý nghĩa tổng kết, vừa ca ngợi công đức hai vị vua anh minh, vừa bày tỏ khát vọng hoà bình muôn thuở, yếu tố được nhấn mạnh, nêu cao là "Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao". Đó là tư tưởng nhân văn hết sức cao đẹp của dân tộc ta.

Bài tập 6. Phát biểu về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài phú.

Gợi ý: 

1. Giá trị nội dung: Bài phú sông Bạch Đằng thông qua việc tái hiện lại không khí chiến thắng hùng tráng của những trận đánh trên sông Bạch Đằng đã thể hiện lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc đồng thời cũng thể hiện tư tưởng nhân văn cao đẹp qua việc đề cao vai trò, vị trí con người của tác giả.

2. Giá trị nghệ thuật: Bài phú sử dụng nhiều hình ảnh, điển tích có chọn lọc, kết hợp trữ tình hoài cổ với tự sự tráng ca, thủ pháp liên ngâm, hình thức đối đáp, đặc biệt là sự sáng tạo hình tượng nhân vật “khách” và nhân vật “các bô lão”, một nhân vật đại diện cho hiện tại và một nhân vật là chứng nhân lịch sử, đồng thời trong mỗi nhân vật đều có sự phân thân của cái tôi tác giả, một cái tôi tráng sĩ có tâm hồn nhạy cảm và tấm lòng ưu ái đối với lịch sử, với đất nước.

Bài phú sông Bạch Đằng là đỉnh cao nghệ thuật của thể phú trong nền văn học Việt Nam thời trung đại.

2. Luyện tập:

Bài tập 1. Học thuộc một số câu trong bài phú mà anh (chị) thích.

Gợi ý:

Bài phú sông Bạch Đằng có nhiều câu hay, đoạn hay. Nên học thuộc cả bài hoặc thuộc một số câu tiêu biểu, làm tư liệu cần thiết cho các bài viết sắp tới.

Bài tập 2. Phân tích, so sánh lời ca của "khách” kết thúc Bài phú sông Bạch Đằng với bài thơ Sông Bạch Đằng của Nguyễn Sưởng (Xem bản dịch bài thơ trong SGK).

Gợi ý:

- Cả hai đều thể hiện niềm tự hào về những chiến công trên sông Bạch đằng của dân tộc ta.

- Cả hai đều khẳng định, để cao vai trò vị trí của con người.

ĐỌC VĂN:                        NGUYỄN TRÃI

A- NHỮNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

1. Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, nhân vật toàn tài số một trong lịch sử phong kiến Việt Nam, đồng thời cũng là người chịu nỗi oan khiên thảm khốc hiếm có trong lịch sử. Qua cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi cần thấy được ông là một nhân cách lớn, một nhà văn hoá lớn, nhà tư tưởng lớn. Nguyễn Trãi đã đóng góp nhiều mặt cho dân tộc: văn hoá, lịch sử, địa lý.... Đặc biệt, ông có những đóng góp lớn về văn học với ba mảng sáng tác chính: văn chính luận, thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm.

2. Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu về tác gia văn học lớn thuộc giai đoạn văn học trung đại, kĩ năng khái quát tài liệu, các sự kiện để đưa ra những nhận xét, đánh giá đúng đắn, sâu sắc.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

I. Hướng dẫn học bài:

Bài tập 1. Vì sao có thể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử vĩ đại?

Gợi ý: HS dựa theo tiểu sử Nguyễn Trãi để trả lời.

- Nguyễn Trãi sống trong thời đại có nhiều biến động dữ dội: nhà Trần suy vi, Hồ Quý Ly lên thay, quân Minh xâm lược nước ta, cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh bị bắt đem về Trung Quốc cùng cha con Hồ Quý Ly và các triều thần. Nguyễn Trãi muốn làm tròn đạo hiếu nhưng theo lời cha dặn quay về "rửa nhục cho nước, trả thù cho cha". Cuộc đời Nguyễn Trãi là cuộc đời của một "trai thời loạn". Sự biến động dữ dội của lịch sử dẫn tới bi kịch mất nước nhưng từ trong bi kịch ấy, lòng yêu nước, chí căm thù, tinh thần quả cảm dám xả thân vì giang sơn xã tắc đã hun đúc những phẩm chất của một trang anh hùng.

- Nguyễn Trãi tìm đến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, dâng Lê Lợi Bình Ngô sách và trở thành quân sư bên cạnh Lê Lợi, đưa cuộc khởi nghĩa đến ngày toàn thắng. Đây là thời kỳ bộc lộ rõ nhất thiên tài quân sự, chính trị, ngoại giao... ở Nguyễn Trãi.

- Bước sang thời kỳ hoà bình. Nguyễn Trãi chưa kịp thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình thịnh trị thì đời ông chuyển sang giai đoạn khó khăn, bi thảm: bị bọn lộng thần ghen ghét, bị vua nghi ngờ, bị bắt rồi không được trọng dụng, phải tìm về cuộc sống ẩn dật. Nguyễn Trãi tìm đến thiên nhiên nhưng tấm lòng trung quân, ái quốc vẫn "đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông".

- Vụ án Lệ Chi Viên khiến Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc. Đây là vụ án lớn nhất, oan khốc nhất trong lịch sử Việt Nam. Hơn 20 năm sau, vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi ("Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”), những trước tác của ông tuy bị cấm, bị đốt song vẫn tìm thấy gần như nguyên vẹn trong lòng dân.

Bài tập 2. Anh (chị) đã đọc những tác phẩm nào của Nguyễn Trãi? Hãy giới thiệu một vài tác phẩm tiêu biểu. 

Gợi ý:

Nguyễn Trãi có những đóng góp lớn cho nền văn hoá dân tộc. Sáng tác của ông thuộc nhiều lĩnh vực: văn học, lịch sử, địa lý, quân sự...; các thể loại gồm:  văn chính luận, văn khoa học (chữ Hán), thơ (chữ Hán và chữ Nôm) v.v... Loại sáng tác nào của ông cũng có ý nghĩa khai mở cho đời sau. Về lịch sử, Nguyễn Trãi có Lam Sơn thực lục, về địa lý có Dư địa chí. Văn chính luận (chính trị, quân sự) có Quân trung từ mệnh tập; thơ chữ Hán có ức Trai thi tập, thơ chữ Nôm có Quốc âm thi tập v.v... Thơ văn của Nguyễn Trãi mang tính mẫu mực cổ điển.

Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết ngay sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh giành thắng lợi. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử vừa có giá trị văn chương to lớn được đánh giá như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, một "áng thiên cổ hùng văn".

Ức Trai thi tập là tập thơ chữ Hán điêu luyện, tình tứ, tao nhã của Nguyễn Trãi mà mỗi bài là một mảnh hồn của Ức Trai tiên sinh.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tập thơ Nôm sớm nhất còn lại đến ngày nay, tập thơ thể hiện ý thức về tiếng nói dân tộc cũng là ý thức tự tôn dân tộc trên lĩnh vực văn hoá, văn học, đặc biệt Nguyễn Trãi đã sáng tạo những bài thất ngôn xen lục ngôn rất tài tình v. v ...  

Thơ văn Nguyễn Trãi có những đặc điểm sau đây:

- Luôn xuất phát từ quan điểm tư tưởng “lấy dân làm gốc” (dân vi bản), tư tưởng đó hoà quyện với tinh thần yêu dân, yêu nước.

- Có ý thức xây dựng nhân cách con người mang tinh thần nhân văn cao đẹp (hiếu học, trọng đức, trọng tài, đem tài đức cống hiến cho dân, cho nước, cho đời).

- Triết lý giản dị mà sâu sắc, giàu trải nghiệm về cuộc đời, thể hiện nhân cách cứng cỏi, trong sáng, thích làm điều thiện, không tham danh lợi.

- Tình yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên là bầu bạn.

- Tâm hồn tình tứ, phong lưu, lãng mạn.

- Nguyễn Trãi là người đặt nền móng cho thơ ca tiếng Việt, vì những tác phẩm thơ ca bằng chữ Nôm của ông có vị trí khai mở cho nền thơ ca nước nhà. Thơ Nguyễn Trãi dùng nhiều hình ảnh đẹp mang tính dân tộc (bên cạnh những hình ảnh có tính ước lệ trong văn học Hán). Nguyễn Trãi đưa nhiều từ thuần Việt vào thơ, đặc biệt ca dao, tục ngữ, từ láy... Nguyễn Trãi sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn chưa từng có trước đó, coi như một thể đặc trưng của thơ tiếng Việt, phổ biến trong thế kỉ XV, XVI.

Bài tập 3. Phân tích vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi qua một số câu thơ mà anh (chị) cảm nhận sâu sắc nhất. 

Gợi ý:

Nguyễn Trãi không chỉ là một con người vĩ đại với những tư tưởng lớn lao, phi thường mà Nguyễn Trãi còn mang một tâm hồn nghệ sĩ rất đỗi lãng mạn, thậm chí có lúc đa tình. Một số câu thơ, bài thơ tiêu biểu thể hiện điều đó như:

 - Tình thư một bức phong còn kín

 Gió nơi đâu gượng mở xem

   (Cây chuối)

 - Khách đến chim mừng hoa xảy động

 Chè tiên (nấu) nước ghín (gánh) nguyệt đeo về.

   (Thuật hứng- 3)

 - Láng giềng một áng mây nổi

 Khách khứa hai ngàn núi xanh

 Có thuở biếng thăm bạn cũ

 Lòng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh.

   (Bảo kính cảnh giới- 42)

 - Bao giờ nhà dựng đầu non

 Pha trà nước suối gối hòn đá ngơi.

 (Hà thì kết ốc phong vân hạ

 Cấp giản thanh trà chẩm thạch miên)

   (Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác).

Bài tập 4. Nêu khái quát những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Trãi.

1. Giá trị nội dung: Luôn xuất phát từ quan điểm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tư tưởng đó hoà quyện với tinh thần yêu dân, yêu nước lí tưởng nhân nghĩa đã trở thành cảm hứng chủ đạo xuyên suốt trong thơ văn Nguyễn Trãi. Cũng xuất phát từ tư tưởng này mà thơ văn Nguyễn Trãi mang tinh thần chiến đấu vì dân, vì nước, vì chính nghĩa.

- Thơ văn Nguyễn Trãi thể hiện rõ ý thức xây dựng nhân cách con người mang tinh thần nhân văn cao đẹp (hiếu học, trọng đức, trọng tài, đem tài đức cống hiến cho dân, cho nước, cho đời), đồng thời mang những triết lý giản dị mà sâu sắc, giàu trải nghiệm. Tình yêu thiên nhiên, tâm hồn tình tứ, phong lưu, lãng mạn cũng là một trong những nội dung đặc sắc của thơ văn Nguyễn Trãi.

2. Giá trị nghệ thuật: "Nguyễn Trãi là bông hoa đầu mùa tuyệt đẹp của thơ Nôm Việt Nam" (Lê Trí Viễn). Ông là người đặt nền móng cho thơ ca tiếng Việt. Thơ Nguyễn Trãi dùng nhiều từ ngữ, hình ảnh mang tính dân tộc. Nguyễn Trãi đã sáng tạo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn và được coi như một thể đặc trưng của thơ tiếng Việt phổ biến trong thế kỉ XV, XVI.

II. Luyện tập:

Ở Nguyễn Trãi có sự kết hợp hài hoà giữa người anh hùng vĩ đại và con người đời thường. Anh (chị) hãy phân tích một số nội dung thơ văn Nguyễn Trãi để làm sáng tỏ nhận định trên.

Gợi ý:

Sự kết hợp hài hoà giữa người anh hùng vĩ đại và con người đời thường trong Nguyễn Trãi được thể hiện rõ qua một số nội dung thơ văn:

- Tư tưởng nhân nghĩa, lí tưởng độc lập, tinh thần vì dân, vì nước thể hiện rõ qua Quân trung từ mệnh tập, nhất là Bình Ngô đại cáo.

- Tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình, tình bạn, những tâm sự riêng trước thế sự được thể hiện qua nhiều bài thơ trong Ức Trai thi tậpQuốc âm thi tập như Dục Thuý sơn, các bài Bảo kính cảnh giới, các bài Thuật hoài, Ngôn hoài, Ngôn chí,... 

LÀM VĂN:

VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 4: VĂN THUYẾT MINH

(Bài làm ở nhà)

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1. Để làm tốt bài làm văn số 4, HS cần có tri thức về nội dung phải trình bày, thuyết minh. Muốn vậy, HS cần quan tâm tìm hiểu thực tế, đồng thời phải tạo cho mình hứng thú trình bày, biết đặt mình vào địa vị người đọc để có thể tự đánh giá bài làm của mình.

Vận dụng những kiến thức và kĩ năng làm văn thuyết minh ở cấp THCS để làm tốt bài viết, nhằm thuyết minh rõ ràng, chuẩn xác về một sự vật, sự việc, hiện tượng, con người...

Qua bài viết, HS thấy rõ hơn trình độ làm văn nhất là văn thuyết minh của bản thân để rút kinh nghiệm làm các bài sau đạt kết quả cao hơn.

2. Rèn luyện kĩ năng làm văn thuyết minh, kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong dùng từ, đặt câu... để lời văn trong sáng, thu hút sự chú ý của người đọc (người nghe). Qua đây, HS cần có ý thức hơn trong việc rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích và miêu tả những sự vật, sự việc, hiện tượng, con người trong đời sống.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

 Đề 1: Viết một bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối (hoặc của rừng, của các loài động vật hoang dã, của nhiên liệu sạch,... ) trong việc bảo vệ môi trường.

 Gợi ý:

HS có thể chọn một trong các đối tượng mà để bài yêu cầu thuyết minh. Vấn đề bảo vệ môi trường đã và đang là mối quan tâm của toàn nhân loại nên dù chọn đối tượng nào để thuyết minh, người viết cũng phải hướng tới mục tiêu là vai trò của đối tượng ấy trong việc bảo vệ môi trường sống.

HS có thể tham khảo dàn ý sau đây cho bài thuyết minh về vai trò của cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống:

+ Mở bài:

Giới thiệu khái quát: cây cối có tầm quan trọng nhất trong việc bảo vệ môi trường sống.

+ Thân bài:

Lần lượt thuyết minh về các tính năng, tác dụng của cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống như:

- Cây cối cung cấp một lượng ôxi khổng lồ.

- Cây cối góp phần giữ cân bằng sinh thái.

- Cây cối góp phần chống xói lở, lũ lụt.

- Cây cối giữ độ ẩm cần thiết khi trời hạn v.v...

Bài viết cũng có thể đề cập tới tình trạng chặt phá rừng bừa bãi dẫn tới nguy cơ thiên tai ngày càng gia tăng, môi trường sống bị đe doạ...

+ Kết bài:

Đánh giá tổng quát hoặc tuyên truyền việc trồng cây, bảo vệ cây, rừng.

 Đề 2- Viết một bài thuyết minh về tác hại của ma tuý (hoặc của rượu, thuốc lá,...) đối với đời sống của con người.

 Gợi ý:

Tệ nạn nghiện ma tuý, rượu, thuốc lá đang ngày một gia tăng thậm chí xuất hiện ngày một nhiều trong nhà trường. Các phương tiện thông tin đại chúng không ngừng tuyên truyền về tác hại của nó. Nếu HS quan tâm thì không thiếu tư liệu để làm tốt bài thuyết minh.

HS có thể tham khảo dàn ý sau đây cho bài thuyết minh về tác hại của ma tuý đối với đời sống của con người.

a- Mở bài:

Giới thiệu khái quát: ma tuý là một hiểm hoạ của loài người.

b- Thân bài:

Lần lượt thuyết minh về các mặt tác hại của ma tuý đối với đời sống con người:

- Nguồn gốc phát sinh ma tuý.

- Các chất được gọi là ma tuý.

- Những tác hại của ma tuý đối với cuộc sống con người:

+ Ma tuý khiến người dùng nó mất khả năng làm chủ, thần kinh tê liệt...

+ Ma tuý gây tổn hại về kinh tế, suy kiệt về nòi giống...

+ Ma tuý là con đường chính dẫn tới lây nhiễm căn bệnh thế kỉ HIV.

- Tình hình nghiện ma tuý hiện nay và những việc cần làm nhằm đẩy lùi tệ nạn này.

c- Kết bài:

Nêu suy nghĩ của bản thân trước tác hại của ma tuý và nhắc nhở mọi người hãy tránh xa.

 Đề 3- Viết một bài văn thuyết minh về một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn.

 Gợi ý:

- Bài viết này thuyết minh về một vấn đề của chính bản thân người viết. Vì vậy đòi hỏi người viết không chỉ chăm học, làm bài tốt mà còn thường xuyên chú ý tới việc đúc rút kinh nghiệm và khả năng thuyết minh lại những kinh nghiệm ấy cho người khác.

- Nếu là học văn thì có thể là kinh nghiệm đọc tác phẩm văn học có ghi chép tóm tắt, kinh nghiệm luyện viết câu văn, đoạn văn hay, kinh nghiệm tiếp thu bài trên lớp, kinh nghiệm rèn luyện quan sát, suy nghĩ, liên tưởng tưởng tượng để trau dồi đời sống tâm hồn...

- Nếu là kinh nghiệm làm văn thì có thể là việc đọc kĩ đề bài, việc lập đề cương, việc triển khai các ý, việc đọc và kiểm tra lại trước khi nạp bài...

   

 

 TUẦN 20 2

ĐỌC VĂN:

ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ

(Bình Ngô đại cáo)

Nguyễn Trãi

A- NHỮNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1. Bình Ngô đại cáo là bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam, một "áng thiên cổ hùng văn", một bản tuyên ngôn độc lập vừa có giá trị lịch sử to lớn vừa có giá trị văn chương đặc sắc. Tác giả đã kết hợp một cách tài tình sức mạnh của lý lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật.

Bình Ngô đại cáo do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi. Bài cáo được viết theo lối văn biền ngẫu, kết cấu chia làm bốn đoạn: nêu luận đề chính nghĩa; vạch tội ác kẻ thù; kể lại quá trình kháng chiến đi đến thắng lợi; tuyên bố hoà bình, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa. Bài cáo nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc. Đó là những yếu tố quyết định thắng lợi vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo lối kết cấu chung của thể cáo, lấy tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc làm cơ sở chân lí để triển khai lập luận. Mọi lí lẽ luôn gắn liền với thực tiễn bằng những dẫn chứng xác đáng. Tác giả đã kết hợp một cách tài tình sức mạnh của lý lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật tạo nên một áng văn bất hủ.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu một tác phẩm thuộc thể loại văn chính luận cổ điển với những đặc trưng riêng của thể cáo.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Hướng dẫn học bài:

Bài tập 1. Tóm lược và nêu chủ đề của từng đoạn. Chủ đề của từng đoạn hướng vào chủ đề chung của bài cáo là nêu cao tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng độc lập dân tộc như thế nào?

Gợi ý:

Ý chính của các đoạn như sau:

- Đoạn 1: Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí độc lập dân tộc của nước Đại Việt.

- Đoạn 2: Nêu cao lòng căm thù, tố cáo và lên án gay gắt tội ác của giặc Minh.

- Đoạn 3: Kể lại diễn biến của cuộc kháng chiến từ khi mở đầu hết sức khó khăn đến lúc thắng lợi hoàn toàn, nêu cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinh thành sức mạnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

- Đoạn 4: Lời tuyên bố hoà bình, khẳng định ý nghĩa của cuộc kháng chiến.

Bài tập 2. Tìm hiểu đoạn mở đầu (Từ "Từng nghe”... đến "...chứng cớ còn ghi”):

a. Có những chân lí nào được khẳng định để làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng cho việc triển khai toàn bộ nội dung bài cáo?

b. Vì sao đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập?

c. Tác giả đã có cách viết như thế nào để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc?

Gợi ý:

a. Nguyễn Trãi nêu nguyên lí chính nghĩa làm chỗ dựa, làm căn cứ xác đáng để triển khai toàn bộ nội dung bài cáo. Nguyên lí này có hai nội dung: tư tưởng nhân nghĩa và chân lí về sự tồn tại độc lập của nước Đại Việt.

b. Đoạn mở đầu có ý nghĩa như lời tuyên ngôn độc lập bởi vì sau khi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, tác giả nói về sự tồn tại độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt như một chân lí khách quan hiển nhiên, vốn có, lâu đời.

c. Để làm nổi bật niềm tự hào dân tộc, Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền: cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, nền văn hiến lâu đời và đặc biệt đặt các triều đại phong kiến Việt Nam song song với các triều đại phong kiến Trung Quốc:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

HS cần so sánh với bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt (đặc biệt chú ý chữ "Nam đế”) để thấy được ý thức tự tôn dân tộc đã trở thành truyền thống.

Bài tập 3. Tìm hiểu đoạn 2 (Từ "Vừa rồi....” đến "...Ai bảo thần dân chịu được”):

a. Tác giả đã tố cáo những âm mưu, những hành động tội ác nào của giặc Minh? Âm mưu nào là thâm độc nhất? Tội ác nào là man rợ nhất?

b. Nghệ thuật của đoạn cáo trạng tội ác kẻ thù có gì đặc sắc?

 Gợi ý:

a. Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường dân tộc để vạch rõ âm mưu của giặc Minh và đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo chủ trương cai trị thâm độc và tội ác của giặc. Đó là âm mưu cướp nước, là luận điệu "phù Trần, diệt Hồ" bịp bợm. Đó là tội "nướng dân đen", "vùi con đỏ", "nặng thuế khoá", "tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ"... đó là những âm mưu hiểm độc và những tội ác man rợ.

b. Nguyễn Trãi quả là một cây bút viết cáo trạng xuất sắc. Tác giả dùng hình tượng có sức khái quát cao:

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

Bằng cách này, Nguyễn Trãi như khắc vào trời đất và khắc vào lòng người lòng căm thù muôn đời, muôn kiếp. Cuối cùng, để kết thúc bản cáo trạng, tác giả viết một câu văn đầy hình tượng:

Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa hết mùi”.

Đây là nghệ thuật dùng “cái vô cùng” để nói về “cái vô cùng”.

Bài tập 4. Tìm hiểu đoạn 3 (Từ "Ta đây...” đến "...cũng là chưa thấy xưa nay”):

a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn được tác giả tái hiện như thế nào?

b. Khi tái hiện giai đoạn phản công thắng lợi, bài cáo miêu tả bức tranh toàn cảnh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

- Tác giả nhằm vào những loại trận ở mấy giai đoạn, mỗi loại có đặc điểm gì nổi bật?

- Phân tích những biện pháp nghệ thuật miêu tả thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại của quân giặc.

- Phân tích tính chất hùng tráng của đoạn văn được gợi lên từ ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu câu văn. 

Gợi ý:

a. Giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa được tác giả chủ yếu tập trung khắc hoạ hình tượng Lê Lợi. Chân dung vị chủ tướng hiện lên  qua cách xưng danh khảng khái (Ta đây: núi Lam Sơn dấy nghĩa...), qua lòng căm thù giặc sâu sắc (Ngẫm thù lớn..., Căm giặc nước...), qua ý thức tự giác và nhiệt huyết cứu nước trở thành thường trực (Đau lòng nhức óc..., Nếm mật nằm gai..., Quên ăn vì giận..., Ngẫm trước đến nay..., Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi...), qua thái độ cầu hiền (Tấm lòng cứu nước... còn dành phía tả), qua tinh thần khắc phục khó khăn (Khi Linh sơn... khắc phục gian nan), qua khả năng thu phục lòng người tạo nên sức mạnh đoàn kết quân dân (Nhân dân bốn cõi... chén rượu ngọt ngào), đặc biệt là mưu chước tài giỏi (Thế trận xuất kì... lấy ít địch nhiều)... Tác giả đã sử dụng những từ ngữ, điển cố, hình ảnh có sức biểu đạt lớn để dựng lên chân dung đầu đủ của người anh hùng dân tộc Lê Lợi khiến cho người đọc tự hào, ngưỡng mộ, cảm phục.

Sức mạnh giúp quân ta chiến thắng chính là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nguyễn Trãi trong bản tuyên ngôn độc lập này đã đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân.

b. Với giọng văn tung hoành, cuồn cuộn khí thế như một bản anh hùng ca chiến thắng, và với những hình ảnh so sánh tương phản độc đáo, tác giả đã miêu tả thành công khí thế chiến thắng của quân ta và sự thất bại thảm hại của giặc Minh . So sánh:

Nghĩa quân Lam Sơn

Quân Minh

- Sấm vang chớp giật; trúc chẻ tro bay; thừa thắng ruổi dài...

- Đưa lưỡi dao tung phá; bốn mặt vây thành; người hùng hổ; kẻ vuốt nanh; gươm mài đá; voi uống nước; sạch không kình ngạc,; tan tác chim muông; cơn gió to; tổ kiến hổng..

- Nghe hơi mà mất vía; nín thở cầu thoát thân; máu chảy thành sông thây chất đầy nội...

- Lê gối dâng tờ tạ tội; trói tay tự xin hàng; thây chất đầy đường; máu trôi đỏ nước; máu chảy trôi chày; thây chất thành núi; cỏ nội đầm đìa máu đen...

Đó là những hình ảnh "thể hiện qui mô vũ trụ, khổng lồ của sức mạnh chính nghĩa" (Trần Đình Sử). Bên cạnh việc sử dụng hình ảnh ẩn dụ, so sánh, tương phản, tác giả còn sử dụng nghệ thuật liệt kê, trùng điệp, câu văn, nhịp điệu dài ngắn đan xen, sự biến hoá linh hoạt, tài tình tạo nên âm hưởng vừa hào hùng vừa mạnh mẽ vừa gợi cảm tráng ca vừa khắc hoạ khí thế rung trời, chuyển đất của nghĩa quân, vừa khắc họa sự tan tác tơi bời của quân giặc.

- Từ hình tượng đến ngôn từ, từ màu sắc đến âm thanh, nhịp điệu, tất cả đều mang đậm tính chất anh hùng ca. Những hình tượng phong phú, đa dạng được đo bằng sự rộng lớn, kì vĩ của thiên nhiên. Câu văn khi ngắn, khi dài biến hoá linh hoạt mà nhạc điệu chung là dồn dập, sảng khoái, bay bổng. Đó là nhịp của triều dâng, sóng dậy, hết lớp này đến lớp khác.

Bài tập 5. Tìm hiểu đoạn kết (Từ "Xã tắc từ đây....” đến "... Ai nấy đều hay”).

- Giọng văn có gì khác với những đoạn trên?

- Theo anh (chị) có những bài học lịch sử nào? Ý nghĩa lịch sử đối với chúng ta ngày nay?

Gợi ý:

- Giọng văn trịnh trọng phù hợp với lời tuyên bố độc lập.

- Bài học lịch sử: có được chiến công, có nền độc lập là bởi "nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ”... Bài học lịch sử này có ý nghĩa rất lớn đối với mọi người và mọi thời, nhất là những người được sống trong hoà bình, độc lập.

Bài tập 6. Rút ra những giá trị chung về nội dung và nghệ thuật của Bình Ngô đại cáo.

Gợi ý:

1. Giá trị nội dung: Bình Ngô đại cáo nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc. Đó là những yếu tố quyết định thắng lợi vẻ vang của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

2. Giá trị nghệ thuật: Tác giả đã vận dụng một cách sáng tạo lối kết cấu chung của thể cáo, lấy tư tưởng nhân nghĩa và độc lập dân tộc làm cơ sở chân lí để triển khai lập luận. Mọi lí lẽ luôn gắn liền với thực tiễn bằng những dẫn chứng xác đáng. Tác giả đã kết hợp một cách tài tình sức mạnh của lý lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật tạo nên một áng văn bất hủ.

Bình Ngô đại cáo là bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt Nam, một "áng thiên cổ hùng văn", một bản tuyên ngôn độc lập vừa có giá trị lịch sử to lớn vừa có giá trị văn chương đặc sắc. mà ở đó tác giả đã kết hợp một cách tài tình sức mạnh của lý lẽ và giá trị biểu cảm của hình tượng nghệ thuật.

2. Luyện tập:

Lập sơ đồ kết cấu của Bình Ngô đại cáo và phân tích tác dụng của nghệ thuật kết cấu đó.

Gợi ý:

Bình Ngô đại cáo là một áng văn chính luận có sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố chính luận và yếu tố nghệ thuật. Kết cấu của bài cáo rất chặt chẽ thể hiện tính chính luận và sự kết hợp chính luận - nghệ thuật. Có thể lập sơ đồ kết cấu như sau:

Tiền đề chính nghĩa

Tư tưởng nhân nghĩa               

Chân lí độc lập

   Tiền đề chính nghĩa

soi sáng vào thực tiễn

Giặc Minh  phi nghĩa  

(Tố cáo tội ác giặc Minh)               

Đại Việt chính nghĩa

(Ca ngợi cuộc kh.ngh. L.Sơn)

Kết luận:

Chính nghĩa chiến thắng

=> Bài học lịch sử

Sơ đồ kết cấu trên cho thấy tính chính luận mẫu mực của một áng văn chính luận. Trước hết nêu lên tiền đề chính nghĩa có tính chân lí làm cơ sở vững chắc cho lập luận. Trên cơ sở ấy, tác giả đem tiền để lí luận soi sáng vào thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn của nó. Cuối cùng là kết luận được rút ra từ thực tiễn. Đó là lời kết luận phải đổi bằng xương máu nên vô cùng thấm thía. Bài học được rút ra có giá trị to lớn và sâu sắc.

LÀM VĂN:

TÍNH CHUẨN XÁC HẤP DẪN CỦA VĂN BẢN THUYẾT MINH

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

 1. Văn bản thuyết minh nhằm cung cấp những tri thức về sự vật khách quan. Vì vậy bài viết (bài nói) cần chuẩn xác. Chuẩn xác là yêu cầu đầu tiên và cũng là yêu cầu quan trọng nhất đối với văn bản thuyết minh. Muốn chuẩn xác cần chú ý tìm hiểu thấu đáo trước khi viết; thu thập tài liệu tham khảo, chú ý đến thời điểm xuất bản của các tài liệu để có thể cập nhật những tìm tòi phát kiến mới cũng như thấy được những thay đổi thường có.

  Thuyết minh bao giờ cũng có người đọc (người nghe). Bài viết vì thế cần tạo được hấp dẫn. Muốn làm cho văn bản hấp dẫn cần đưa ra những chi tiết cụ thể, sinh động, những con số chính xác; so sánh để làm nổi bật sự khác biệt, khắc sâu vào trí nhớ người đọc (người nghe); làm cho câu văn thuyết minh biến hoá linh hoạt; khi cần nên phối hợp nhiều loại kiến thức để đối tượng thuyết minh được soi rọi từ nhiều mặt.

2. Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức để bước đầu viết những văn bản thuyết minh có tính chuẩn xác và hấp dẫn.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Bài luyện tập về tính chuẩn xác trong văn bản thuyết minh:

 Trả lời các câu hỏi để kiểm tra tính chuẩn xác của văn bản thuyết minh (Nội dung câu hỏi, xem SGK).

 Gợi ý:

a. Muốn biết lời thuyết minh về chương trình học có chuẩn xác hay không chỉ cần đối chiếu với mục lục sách Ngữ văn 10. Sau khi đối chiếu sẽ thấy lời thuyết minh không chuẩn xác vì:

- Chương trình Ngữ văn 10 không phải chỉ có văn học dân gian.

- Chương trình Ngữ văn 10 về văn học dân gian không phải chỉ có ca dao, tục ngữ.

- Chương trình Ngữ văn 10 không có câu đố.

b. Câu nêu ra trong SGK chưa chuẩn xác vì không phù hợp với ý nghĩa thực của những từ "thiên cổ hùng văn". "Thiên cổ hùng văn" là áng hùng văn của nghìn đời chứ không phải áng hùng văn viết trước đây một nghìn năm.

c. Văn bản dẫn trong bài tập không thể dùng để thuyết minh về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vì nội dung  không nói đến Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư cách nhà thơ.

II- Bài luyện tập về tính hấp dẫn của văn bản thuyết minh:

 Bài tập 1. Đọc đoạn văn (SGK) và phân tích luận điểm: "Nếu bị tước đi môi trường kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm” trở nên cụ thể, dễ hiểu, hấp dẫn.

 Gợi ý:

"Nếu bị tước đi môi trường kích thích, bộ não của đứa trẻ sẽ phải chịu đựng kìm hãm" là một luận điểm khái quát. Tác giả đã đưa ra hàng loạt những chi tiết cụ thể về bộ não của đứa trẻ ít được chơi đùa, ít được tiếp xúc và bộ não của con chuột bị nhốt trong hộp rỗng,... để làm sáng tỏ luận điểm. Luận điểm khái quát đã trở nên cụ thể, dễ hiểu. Vì vậy việc thuyết minh trở nên hấp dẫn, sinh động.

 Bài tập 2. Đọc đoạn trích (SGK) và phân tích tác dụng tạo hứng thú của việc kể lại truyền thuyết về hòn đảo An Mạ.

 Gợi ý:

Việc biết sự tích vua Lê trả kiếm cho Rùa thần tạo nên sự thích thú cho mọi người khi đứng trước Hồ Gươm. Chúng ta không chỉ thấy phong cảnh một Hồ Gươm trước mặt mà còn thấy một Hồ Gươm trong quá khứ, từ đó hiểu sâu về lịch sử, văn hoá, về đời sống tâm linh của dân tộc. Chính vì thế mà khi tham quan một thắng cảnh, một di tích nào ta cũng muốn biết những sự tích liên quan đến thắng cảnh, di tích ấy. Bài thuyết minh về Hồ Ba Bể đã trở nên hấp dẫn hơn khi tác giả nói đến những sự tích, những truyền thuyết giúp ta như trở về một thuở xa xưa thần tiên, kì ảo. Ngắm phong cảnh với những cảm xúc như thế, tâm hộn ta sẽ giàu có hơn, sâu sắc hơn.

 III- Bài luyện tập chung: 

 Đọc đoạn trích tác phẩm “Miếng ngon Hà Nội” của nhà văn Vũ Bằng (SGK) và phân tích tính hấp dẫn của nó.

 Gợi ý:

Đoạn văn thuyết minh của nhà văn Vũ Bằng hấp dẫn, sinh động vì:

- Tác giả sử dụng linh hoạt các kiểu câu: câu đơn, câu ghép, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu khẳng định.

- Tác giả sử dụng những từ ngữ giàu hình tượng, giàu liên tưởng như: "Bó hành hoa xanh như lá mạ", "... một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu",...

- Tác giả bộc lộ rất nhiều cảm xúc: "Trông mà thèm quá", "Có ai lại đừng vào ăn cho được”,...

 

TUẦN 21 2

ĐỌC VĂN:            BÀI TỰA SÁCH “TRÍCH DIỄM THI TẬP”

              (Trích diễm thi tập tự)

Hoàng Đức Lương

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

 1. Bài tựa sách "Trích diễm thi tập" của Hoàng Đức Lương ra đời sau cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Kẻ thù muốn huỷ diệt nền văn hoá của dân tộc ta, đồng hoá nhân dân ta. Trong bối cảnh ấy, công việc sưu tầm thơ văn của Trần Đức Lương có một ý nghĩa rất lớn. Tựa "Trích diễm thi tập” là một bài tựa hay bởi sự kết hợp giữa việc trình bày, sự biểu cảm và lập luận chặt chẽ. Tác giả đã nhấn mạnh bốn nguyên nhân chủ quan (Ít người am hiểu; danh sĩ bận rộn; thiếu người tâm huyết; chưa có lệnh vua...) và nguyên nhân khách quan (thời gian và binh hoả ). Từ đó, tác giả nêu động cơ và quá trình hoàn thành bộ sách. Mặc dù là một công việc đòi hỏi nhiều tâm huyết nhưng tác giả tỏ ra rất khiêm tốn.

Qua bài tựa, ta thấy được phần nào không khí thời đại, hiểu được tâm tư, tình cảm của tác giả đặc biệt tấm lòng trân trọng, tự hào của tác giả về di sản văn hoá do ông cha ta để lại.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu một văn bản cổ viết theo thể tựa vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I. Hướng dẫn học bài:

Bài tập 1.  Theo Hoàng Đức Lương, có những nguyên nhân nào khiến "thơ văn không lưu truyền hết ở đời”?

Gợi ý:

Trong phần đầu của bài tựa, tác giả trình bày bốn lý do khiến thơ văn không lưu truyền hết ở đời:

- Lý do thứ nhất: Chỉ có thi nhân mới thấy được cái hay, cái đẹp của thi ca. Có thể đặt tên cho lí do này là “Ít người am hiểu”.

- Lý do thứ hai: Người có học thì bận rộn chốn quan trường hoặc lận đận trong khoa cử,  ít để ý đến thơ ca. Có thể đặt tên cho lí do này là: “Danh sĩ bận rộn”.

- Lý do thứ ba: Có người quan tâm đến thơ ca nhưng không đủ năng lực và kiên trì. Có thể đặt tên cho lí do này là: “Thiếu người tâm huyết”.

- Lý do thứ tư: Triều đình chưa quan tâm. Có thể đặt tên cho lí do này là: “Chưa có lệnh vua”...

Ngoài bốn lý do thuộc về chủ quan, tác giả còn nêu lý do thuộc về khách quan.

Đoạn tiếp theo từ "Vì bốn lý do kể trên..." đến  "... mà không rách nát tan tành" là lí do thứ năm: thời gian và binh hoả có sức huỷ hoại ghê gớm. Đoạn văn kết lại bằng một câu hỏi tu từ có ý nghĩa phủ định: "... thì còn giữ mãi thế nào được mà không rách nát tan tành?”. Câu hỏi biểu hiện nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đau lòng. Đó là nguyên nhân thôi thúc tác giả làm sách “Trích diễm thi tập”.

Bài tập 2. Hoàng Đức Lương đã làm gì để sưu tầm thơ văn của tiền nhân?

Gợi ý:

Phần tiếp theo, tác giả trình bày động cơ khiến mình phải sưu tầm, tuyển chọn thơ ca dân tộc để soạn “Trích diễm thi tập”. Đó là:

- Thực trạng tình hình sách vở về thơ ca Việt Nam rất hiếm"không khảo cứu vào đâu được". Người học làm thơ như Hoàng Đức Lương "chỉ trông vào thơ bách gia đời nhà Đường".

- Nhu cầu bức thiết phải biên soạn sách “Trích diễm thi tập” bởi vì "một nước văn hiến, xây dựng đã mấy trăm năm, chẳng lẽ không có quyển sách nào có thể làm căn bản”.

Đó là những động cơ thôi thúc tác giả soạn sách “Trích diễm thi tập”.

Việc làm thì hết sức lớn lao, công phu và ý nghĩa, không phải ai muốn cũng làm được. Song, tác giả thể hiện thái độ hết sức khiêm tốn. Đây là thái độ thường thấy của người phương Đông thời trung đại. Hoàng Đức Lương tự coi mình là "tài hèn sức mọn", khi nói về việc đưa thơ của mình vào cuối các quyển, tác giả nói "mạn phép phụ thêm những bài vụng về do tôi viết".

Để hoàn thành “Trích diễm thi tập”, Hoàng Đức Lương đã phải: "tìm quanh hỏi khắp" để sưu tầm thơ ca của những người đi trước. Rồi tác giả "thu lượm thêm thơ của các vị hiện đang làm quan trong triều". Sau đó là công việc biên soạn "chọn lấy bài hay" rồi "chia xếp theo từng loại". Tác giả đặt tên sách là Trích diễm, gồm 6 quyển. Đây là công việc đòi hỏi tốn nhiều thời gian, công sức, người không tâm huyết sẽ không thể làm được.

Bài tập 3. Điều gì thôi thúc Hoàng Đức Lương vượt khó khăn để biên soạn tuyển tập thơ này?Anh (chị) có cảm nghĩ gì về công việc sưu tầm, biên soạn thơ văn do ông tiến hành?

Gợi ý:

Để trả lời câu hỏi này cần có cái nhìn tổng hợp toàn bài. Cần nhấn mạnh đến những ý sau:

- Niềm tự hào về văn hiến dân tộc.

- ý thức trách nhiệm trước di sản văn học của cha ông bị thất lạc.

- Tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự cường trong văn học.

Bài tập 4. Anh (chị) cho biết một ý kiến xuất hiện trước “Trích diễm thi tập” nói về văn hiến dân tộc.

Gợi ý:

Trước Hoàng Đức Lương, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi cũng đã từng đề cập đến nền văn hiến của dân tộc:

"Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”...

Cả hai ý kiến đều phản ánh ý thức độc lập dân tộc và niềm tự hào về văn hiến dân tộc của nhân dân Việt Nam đang trên đà được khẳng định.     Bài tập 5. Nhận xét tổng quát về bài tựa?

Gợi ý:

Bài tựa có lập luận chặt chẽ, chất trữ tình hoà quyện vào chất nghị luận. Tác giả trình bày luận điểm một cách rõ ràng, mạch lạc và khúc chiết. Lòng yêu nước được thể hiện ở thái độ trân trọng di sản văn hoá của cha ông, niềm đau xót trước thực trạng. Qua lời tựa, người đọc còn thấy được cả không khí thời đại cùng tâm trạng của tác giả.

II-Luyện tập:

Tìm các dẫn chứng chứng tỏ các nhà văn, nhà thơ thời xưa rất tự hào về nền văn hiến dân tộc.

Gợi ý:

Ngoài bài tựa của Trần đức Lương, bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, còn nhiều tác phẩm của các tác giả khác như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt (mặc dù chỉ là gián tiếp), Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử kí toàn thư của Nhô Sĩ Liên, Hiền tài là nguyên khí quố gia (Bài kí đề danh bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba) của Thân Nhân Trung là những dẫn chứng chứng tỏ các nhà văn, nhà thơ thời xưa rất tự hào về nền văn hiến dân tộc.

TIẾNG VIỆT:        KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT

A- NHỮNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

I- Về lịch sử tiếng Việt:  Tiếng Việt là ngôn ngữ của dân tộc Việt, có nguồn gốc cổ xưa, thuộc họ Nam Á và có quan hệ với các nhóm ngôn ngữ khác ngoài họ Nam Á. Tiếng Việt có quá trình phát triển riêng đầy sức sống gắn với sự trưởng thành mạnh mẽ của tinh thần dân tộc tự cường và tự chủ.

Tiếng nói của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam gồm các nhóm: Việt- Mường, Môn - Khơ-me; Tày - Thái; Mã Lai - Đa Đảo; Mông - Dao; Hán - Tạng. Các ngôn ngữ này phần lớn thuộc ngữ hệ Nam Á và một số ngoài họ Nam Á. Tiếng Việt có quan hệ họ hàng gần gũi với tiếng Mường, quan hệ họ hàng xa với tiếng Môn - Khơ-me. Tiếng Việt có quan hệ láng giềng với nhiều ngôn ngữ khác ngoài họ Nam Á như nhóm Tày- Thái, nhóm Mã Lai - Đa Đảo...

Quá trình phát triển của tiếng Việt chia làm bốn thời kì:  

1- Tiếng Việt trong thời kì dựng nước.

Thời kì này chứng minh bản sắc của tiếng Việt: vừa là tiếng nói có lịch sử lâu đời, vừa đạt tới một trình độ phát triển cao, do đó nó đã không bị tiếng Hán đồng hoá, trái lại đã vay mượn tiếng Hán hàng loạt yếu tố, nhất là vốn từ, để làm giàu thêm hệ thống của mình.

2- Tiếng Việt dưới thời kì độc lập, tự chủ.  

Đây là thời kì ra đời và phát triển của chữ Nôm.

Chữ Nôm có thể  được hình thành từ TK.VIII- TK IX, được sử dụng vào khoảng từ TK X đến TK XIII. Từ TK XIII đến TK XV đã có thơ văn viết bằng chữ Nôm, từ TK XV trở đi, trào lưu văn chương Nôm phát triển và có những bước tiến rõ rệt.

Nhờ có chữ Nôm, kho từ vựng tiếng Việt tăng lên, giàu có hơn.

3- Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc.

Đây là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và phát triển của chữ quốc ngữ.

Chữ quốc ngữ do một số giáo sĩ châu Âu sang Việt Nam truyền đạo Thiên Chúa sáng tạo ra để ghi âm tiếng Việt. Trải qua quá trình phát triển, chữ quốc ngữ dần dần hoàn thiện. Từ đầu thế kỷ XX nó đươc dùng rộng rãi  trong các lĩnh vực văn hoá, văn học, khoa học- kỹ thuật...

Thời kì này, không chỉ từ Hán mà nhiều từ gốc Âu cũng được du nhập vào hệ thống tiếng Việt.

4- Tiếng Việt từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.

Tiếng Việt được mở rộng và hoàn thiện, được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, được dùng để giảng dạy ở nhà trường (mọi cấp học)

Với vai trò một ngôn ngữ văn hoá phát triển toàn diện, tiếng Việt phát huy tác dụng to lớn trong sự nghiệp giành độc lập, tự do và thống nhất cho tổ quốc, trong công cuộc xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp.

Tìm hiểu về lịch sử tiếng Việt để bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc và có ý thức gìn giữ, phát triển sự trong sáng của tiếng Việt.

II- Về chữ viết tiếng Việt: Chữ viết tiếng Việt gồm có chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Chữ Nôm tuy dựa vào chữ Hán, nhưng đã đi xa hơn chữ Hán trên con đường xây dựng chữ viết, thể hiện rõ trong việc lấy phương châm ghi âm làm phương hướng chủ đạo. Về sau, sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, thay thế chữ Nôm là một bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực chữ viết của dân tộc.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

Bài tập 1- Tìm ví dụ để minh hoạ cho các biện pháp Việt hoá từ ngữ Hán được vay mượn đã nêu trong bài.

Gợi ý:

Cần chọn ví dụ ở ngay trong một số bài thuộc các bộ môn khoa học tự nhiên đã học trong chương trình, sau đó tìm các ví dụ phù hợp với ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học đã nêu trong SGK. Như vậy việc giải bài tập này sẽ dễ dàng hơn.

Bài tập 2. Anh (chị) cho biết cảm nhận của mình về những ưu điểm của chữ quốc ngữ với tư cách là công cụ phụ trợ của tiếng Việt.

Gợi ý:

HS phát biểu những cảm nhận của cá nhân nhưng cần dưa trên một số ý cơ bản sau:

- Chữ quốc ngữ đơn giản về hình thức kết cấu.

- Giữa chữ và âm, giữa cách viết và cách đọc có sự phù hợp ở mức độ khá cao.

- Chỉ cần học thuộc bảng chữ cái và cách ghép vần là có thể đọc được tất cả mọi từ trong tiếng Việt.

Trong quá trình phát biểu cần minh hoạ bằng các ví dụ.

Bài tập 3. Hãy tìm thêm ví dụ để minh hoạ cho ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học.

Gợi ý:

Trước hết cần thống kê những thuật ngữ có trong một số bài học thuộc các bộ môn khoa học tự nhiên, sau đó tìm các ví dụ phù hợp với ba cách thức đặt thuật ngữ khoa học:

- Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây.

- Vay mượn thuật ngữ khoa học- kĩ thuật qua tiếng Trung Quốc và đọc theo âm Hán Việt.

- Đặt thuật ngữ thuần Việt.

TUẦN 22 2

ĐỌC VĂN:

SỬ KÍ       

HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

(Trích Đại Việt sử kí toàn thư)

                                                         Ngô Sĩ Liên

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

 1. Ra đời ở thời kì văn, sử, triết bất phân, Đại Việt sử kí toàn thư là cuốn sách biên niên lịch sử nhưng đậm chất văn học. Mỗi nhân vật, sự kiện lịch sử được kể kèm theo những câu chuyện sinh động, để lại những ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Đoạn trích về Trần Quốc Tuấn là một trong những đoạn trích tiêu biểu cho cách viết đó.

Phẩm chất nổi bật ở Trần Quốc Tuấn được khắc hoạ là trung quân ái quốc. Lòng trung với vua của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở tinh thần yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm công dân đối với đất nước. Ông hết lòng lo tính kế sách giúp vua giữ nước an dân. Lòng trung của ông được đặt trong hoàn cảnh có thử thách, bản thân ông cũng bị đặt trong mối mâu thuẫn giữa "hiếu" và "trung". Trần Quốc Tuấn đã đặt "trung" lên trên "hiếu" , nợ nước trên tình nhà.

Bên cạnh phẩm chất trung quân ái quốc, Trần Quốc Tuấn còn là một vị tướng anh hùng đầy tài năng, mưu lược đồng thời là con người có đức độ lớn lao.

Những phẩm chất trên đây của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được tác giả sử kí khắc hoạ trong nhiều mối quan hệ và đặt vào những tình huống có tính chất thử thách. Từ quan hệ với nước, với vua đến quan hệ với dân, với tướng sĩ dưới quyền, từ quan hệ đối với con cái đến quan hệ đối với bản thân..., dù trong bất kì hoàn cảnh nào, bất kì quan hệ nào, Trần Quốc Tuấn vẫn là tấm gương mẫu mực của một vị tướng toàn đức, toàn tài. ông không những được nhân dân ngưỡng mộ mà cả quân giặc cũng phải kính phục.

2. Rèn luyện kĩ năng đọc- hiểu một tác phẩm sử kí thời trung đại, cảm nhận được chất nghệ thuật đắc sắc trong một tác phẩm sử.

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I-Hướng dẫn học bài:

 Bài tập 1. Anh (chị) rút ra được điều gì qua lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua về kế sách giữ nước.

 Gợi ý:

Lời trình bày của Trần Quốc Tuấn với vua có nội dung:

- Nên tuỳ thời thế mà có sách lược phù hợp, binh pháp cần vận dụng linh hoạt, không có khuôn mẫu nhất định.

- Điều kiện quan trọng nhất để thắng giặc là toàn dân đoàn kết một lòng.

- Do đó phải giảm thuế khoá, bớt hình phạt, không phiền nhiễu dân, chăm lo cho dân có đời sống sung túc..., đó chính là "thượng sách giữ nước”.

Qua nội dung lời trình bày, người đọc nhận thấy Trần Quốc Tuấn không những là vị tướng tài năng, mưu lược, có lòng trung quân mà còn biết thương dân, trọng dân và biết lo cho dân.

 Bài tập 2. Chi tiết Trần Quốc Tuấn đem lời cha dặn ra hỏi ý kiến hai người gia nô cùng hai người con và những phản ứng của ông khi nghe câu trả lời của họ có ý nghĩa như thế nào?

 Gợi ý:

Trần Quốc Tuấn đã có suy nghĩ của riêng mình đối với lời cha dặn: "Để điều đó trong lòng nhưng không cho là phải”. Nhưng ông vẫn hỏi ý kiến hai người gia nô và hai người con để thử lòng.

- Trước lời nói của Yết Kiêu và Dã Tượng, ông "cảm phục đến phát khóc, khen ngợi hai người”.

- Trước lời nói của Hưng Vũ Vương, ông "ngầm cho là phải”.

- Trước lời nói của Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng, ông nổi giận rút gươm định trị tội và thậm chí sau này không muốn Quốc Tảng nhìn mặt ông lần cuối.

Qua những biểu hiện trên đây, ta có thể thấy Trần Quốc Tuấn là một người hết lòng trung nghĩa với vua, với nước, không mảy may tự tư tự lợi. Ông cũng là một người có tình cảm chân thành, nồng nhiệt, thẳng thắn, rất nghiêm trong việc giáo dục con cái.

 Bài tập 3. Qua đoạn trích có thể thấy nổi bật những đặc điểm gì về nhân cách của Trần Quốc Tuấn? Chỉ ra sự khéo léo trong nghệ thuật khắc hoạ chân dung nhân vật của tác giả (nhân vật được đặt trong những mối quan hệ và những tình huống như thế nào?).

 Gợi ý:

Để thấy được toàn bộ chân dung Trần Quốc Tuấn, ngoài các chi tiết trên cần chú ý tới nhiều chi tiết khác như: lời phân tích của ông với nhà vua về cách đánh giặc, cách giữ nước khi ông lâm bệnh; mối hiềm khích giữa cha ông và Trần Thái Tông và lời dặn dò của cha;...

Phẩm chất nổi bật ở Trần Quốc Tuấn được khắc hoạ là trung quân ái quốc. Lòng trung với vua của trần Quốc Tuấn thể hiện ở tinh thần yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm công dân đối với đất nước. ông hết lòng lo tính kế sách giúp vua giữ nước an dân. Lòng trung của ông được đặt trong hoàn cảnh có thử thách, bản thân ông cũng bị đặt trong mối mâu thuẫn giữa "hiếu""trung". Trần Quốc Tuấn đã đặt "trung” lên trên "hiếu” , nợ nước trên tình nhà.

Bên cạnh phẩm chất trung quân ái quốc, Trần Quốc Tuấn còn là một vị tướng anh hùng đầy tài năng, mưu lược đồng thời là con người có đức độ lớn lao.

 Những phẩm chất trên đây của Hưng Đạo Đại Vương trần Quốc Tuấn đước tác giả sử kí khéo léo khắc hoạ trong nhiều mối quan hệ và đặt vào những tình huống có tính chất thử thách. Từ quan hệ với nước (câu nói nổi tiếng "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng”), với vua đến quan hệ với dân (khi sống nhắc nhở vua "khoan sức dân", khi chết hiển linh phò trợ dân), với tướng sĩ dưới quyền (tận tâm dạy bảo, tiến cử người tài), từ quan hệ đối với con cái (nghiêm khắc giáo dục) đến quan hệ đối với bản thân (khiêm tốn, giữ đạo trung nghĩa),... Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, bất kì quan hệ nào, Trần Quốc Tuấn vẫn là một mẫu mực của một vị tướng toàn đức, toàn tài. ông không những được nhân dân ngưỡng mộ mà cả quân giặc cũng phải kính phục.

 Bài tập 4. Anh (chị) có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích?

 Gợi ý:

Ghi chép lịch sử là ghi chép theo trình tự thời gian nhưng cần chú ý là trong Đại Việt sử kí toàn thư, cách kể chuyện về các nhân vật lịch sử không đơn điệu theo trình tự thời gian.

Mở đầu đoạn trích là sự xuất hiện một sự kiện tạo nên một mốc đáng chú ý: "Tháng 6, ngày 24, sao sa”. Theo quan niệm của người xưa, sao sa là điềm xấu. Điềm này báo hiệu Hưng Đạo Vương ốm nặng và sẽ qua đời.

Từ sự việc trên, nhà viết sử ngược dòng thời gian kể chuyện về Trần Quốc Tuấn. Tiếp đó, tác giả lại trở về với dòng sự kiện đang xảy ra: "Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất...”. Sau thông tin này, tác giả nhắc lại những công lao và đức độ của Trần Quốc Tuấn để gián tiếp giải thích cho những danh hiệu tôn quí mà Trần Quốc Tuấn được vua phong tặng. Đây không hoàn toàn là việc ôn lại một cách khô khan mà tất cả những công lao, đức độ của người quá cố được thể hiện trong những câu chuyện sinh động.

Nhà viết sử không chỉ kể chuyện một cách phức hợp, với nhiều chiều thời gian, mà còn khéo léo lồng vào câu chuyện những nhận xét sâu sắc nhằm định hướng cho người đọc có được những nhận xét, đánh giá thoả đáng.

Cách kể chuyện trong đoạn trích vừa mạch lạc, khúc chiết vừa giải quyết được những vấn đề then chốt về nhân vật đồng thời vẫn giữ được mạch chuyện tiếp nối lô-gíc.Chuyện vì thế trở nên sinh động, hấp dẫn. Nhân vật lịch sử cũng vì thế mà được nổi bật chân dung.

 Bài tập 5. Chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của Hưng Đạo Vương, đặc biệt là hình ảnh "tráp đựng kiếm có tiếng kêu” có ý nghĩa gì? Anh (chị) hãy lựa chọn một trong các ý sau ( SGK).

 Gợi ý:

Câu hỏi này là câu hỏi tình huống, đặt HS vào một sự lựa chọn để qua đó rèn luyện khả năng cảm thụ nhạy bén và khả năng liên tưởng phong phú. ý (a): "cho thấy tín ngưỡng và những tập tục thờ cúng của nhân dân ta thời xưa” là không đúng. Cả hai ý (b),(c): "cho thấy lòng cảm phục và ngưỡng mộ của nhân dân đối với Hưng Đạo Vương sâu sắc đến mức họ đã thần thánh hoá ông, cho rằng ông đã trở thành thần linh để giúp dân, giúp nước”"Chỉ là những truyền thuyết để làm nổi bật tấm lòng thương dân, yêu nước và khí phách anh hùng của ông- những nét đẹp đã trở thành bất tử trong lòng người” đều đúng. Vì vậy, cần chọn ý (d): "ý kiến khác" để đưa ra những nhận xét tổng hợp và những ý kiến mang tính sáng tạo của bản thân, có thể liên hệ tới việc nhiều nơi hiện nay có đền thờ Hưng Đạo Vương, nhân dân tôn kính gọi Trần Quốc Tuấn là "Đức Thánh Trần”.

 II- Luyện tập:

 Bài tập 1. Từ những chi tiết trong đoạn trích, anh (chị) hãy tóm tắt lại câu chuyện về trần Quốc Tuấn (không quá 20 dòng).

 Gợi ý:

 HS tự tóm tắt. Yêu cầu: ngoài việc nắm vững những chi tiết, sự việc chính còn phải thể hiện đầy đủ những khía cạnh trong phẩm chất, nhân cách của ông, đồng thời phải thể hiện được những cảm nhận của bản thân về nhân vật lịch sử này.

 Bài tập 2. Sưu tầm những câu chuyện có liên quan đến Trần Quốc Tuấn hoặc những bài thơ viết về ông.

 Gợi ý:

HS cần dựa vào các tư liệu lịch sử, các tài liệu văn học, các giai thoại trong dân gian.   

TUẦN 23 2

LÀM VĂN:

PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH

A- NHỮNG KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG CẦN NẮM VỮNG

1. Phương pháp thuyết minh là một hệ thống những cách thức mà người thuyết minh sử dụng nhằm đạt được mục đích đặt ra. Phương pháp thuyết minh có tầm quan trọng rất lớn trong việc làm bài văn thuyết minh. Nắm được phương pháp, người viết (người nói) mới truyền đạt đến người đọc (người nghe) những hiểu biết về sự vật, sự việc, hiện tượng một cách dễ dàng và hiệu quả.

Ngoài các phương pháp thuyết minh đã học ở THCS (nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân loại, phân tích) còn có những phương pháp khác: thuyết minh bằng cách chú thích; thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân- kết quả.

Việc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh cần tuân theo các nguyên tắc: không xa rời mục đích thuyết minh; làm nổi bật bản chất và nét đặc trưng của sự vật, hiện tượng; làm cho người đọc (người nghe) tiếp nhận dễ dàng và hứng thú.

2. Qua bài học, đặc biệt là qua hệ thống câu hỏi, bài tập, người học được rèn luyện kĩ năng nhận thức, phân loại các phương pháp thuyết minh đồng thời rèn luyện kĩ năng vận dụng các phương pháp thuyết minh vào những bài tập cụ thể, từ đó có kĩ năng vận dụng phương pháp thuyết minh vào làm văn cũng như trong cuộc sống.   

B- GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Ôn tập các phương pháp thuyết minh đã học:

 Đọc mỗi đoạn trích (SGK)

a. Cho biết tác giả mỗi đoạn trích đã sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?

b. Phân tích tác dụng của từng phương pháp trong việc làm cho sự vật hay hiện tượng được thuyết minh càng thêm chuẩn xác, sinh động và hấp dẫn.

 Gợi ý:

+ Đoạn trích Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên

Đoạn trích thuyết minh về công lao tiến cử người tài giỏi cho đất nước của Trần Quốc Tuấn. Phương pháp thuyết minh mà tác giả sử dụng ở đây là phương pháp nêu ví dụ. Những tên tuổi được nêu ra (Dã Tượng, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô Sĩ Thường, Nguyễn Thế Trực) đã làm cho vấn đề được thuyết minh trở nên sáng rõ, có sức thuyết phục.

+ Đoạn trích Thi sĩ Ba- sô và "Con đường hẹp thiên lí".

Đoạn trích thuyết minh về các bút danh của Ba- sô. Từ bút danh Mu-nê-phu-sa, bút danh Tô-sây đến bút danh Ba-sô, cái người đọc cần biết là ý nghĩa của các bút danh ấy. Vì vậy, người viết đã sử dụng phương pháp nêu định nghĩa để thuyết minh. Nhờ phương pháp thuyết minh này mà các bút danh của Ba-sô được giải thích một cách sáng rõ.

+ Đoạn trích Con người và con số trên tạp chí Kiến thức ngày nay.

Đoạn trích thuyết minh về cấu tạo phức tạp và đồ sộ của tế bào trong cơ thể người. Phương pháp thuyết minh ở đây là dùng số liệu. Người viết đã đi từ số lượng tế bào (40- 60 000 tỉ) đến số lượng phân tử cấu tạo nên tế bào (6 triệu tỉ phân tử) rồi số lượng nguyên tử cấu tạo nên phân tử (1 tỉ tỉ nguyên tử). Từ đó, để giúp người đọc dễ hình dung, người viết đã liên hệ tới các số liệu khác như số lượng cư dân, số lượng các vì tinh tú, ,...  và đi đến kết luận: "Nếu mỗi nguyên tử dài 1 mm, một tế bào sẽ dài 10 cm, thì một người cao 1,75 m sẽ biến thành người khổng lồ với chiều cao 1.750 km! May thay, điều này không xảy ra vì nguyên tử là cực nhỏ”. Sức hấp dẫn của đoạn thuyết minh này chính là các số liệu. Các số liệu đã tạo nên ấn tượng sâu sắc, khó quên ở người đọc.

+ Đoạn trích Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng.

Đoạn trích thuyết minh về nhạc cụ dùng trong hát trống quân. Nhà văn đã sử dụng phương pháp thuyết minh phân tích. Tác giả phân tích tính giản dị của nhạc cụ dùng trong hát trống quân: các loại "hết thảy đều là đồ bỏ”; cách sử dụng vô cùng dân dã; nhưng âm thanh thật "giòn giã". Phương pháp thuyết minh này đã giúp nhười đọc hiểu được ý nghĩa của đối tượng.

II-Tìm hiểu thêm một số phương pháp thuyết minh:

 Bài tập 1. Đọc lại câu văn "Ba-sô là bút danh" đã dẫn trong phần luyện tập trước và cho biết vì sao không thể cho rằng tác giả câu đó đã thuyết minh bằng cách định nghĩa? Tác giả đã thuyết minh bằng cách chú thích, vậy phương pháp này có gì khác phương pháp định nghĩa?

 Gợi ý:

Câu văn thuyết minh "Ba-sô là bút danh" không sử dụng phương pháp định nghĩa vì không đặt Ba-sô vào một loại lớn hơn, cũng không chỉ ra yếu tố nói lên đúng đặc điểm bản chất của nhà văn này.

Phương pháp được sử dụng ở đây là phương pháp chú thích. Phương pháp chú thích và phương pháp định nghĩa có những nét khá giống nhau bởi vì về đại thể cả hai đều có cấu trúc cơ bản: “A là B”. Song, hai phương pháp này có những nét khác nhau. Phương pháp định nghĩa có những đòi hỏi chặt chẽ hơn. Phần B trong định nghĩa phải đạt được hai yêu cầu cơ bản. Một là phải đặt đối tượng định nghĩa vào một loại lớn hơn. Hai là phải chỉ ra yếu tố nói lên đúng đặc điểm bản chất của đối tượng để phân biệt nó với các đối tượng cùng loại khác. Phương pháp chú thích không buộc thoả mãn hai yêu cầu đó. Tuy mức độ chuẩn xác không cao nhưng bù lại phương pháp chú thích có khả năng mềm dẻo hơn, dễ sử dụng hơn.

 Bài tập 2. Đọc đoạn văn tiếp tục giới thiệu về thi sĩ Ba-sô (SGK) và cho biết đoạn văn được viết để nói về: (1) Niềm say mê cây chuối của Ba-sô; (2) Tại sao có bút danh Ba-sô. Theo anh (chị) trong hai mục đích ấy, mục đích nào là chủ yếu? Đoạn văn có quan hệ nhân quả với nhau không? Nếu có thì đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả? Vì sao có thể nói đoạn thuyết minh ấy đã được trình bày hợp lí và sinh động?

 Gợi ý:

 Đoạn trích thuyết minh về niềm say mê cây chuối của Ba-sô và tại sao có bút danh Ba-sô. Trong hai mục đích này, mục đích thuyết minh về việc tại sao có bút danh Ba-sô là chủ yếu mặc dù được nói ngắn hơn niềm say mê cây chuối của Ba-sô. Đây chính là mối quan hệ nhân- quả. Cho dù nguyên nhân có được trình bày dài hơn nhưng nội dung thông báo chính vẫn là kết quả. Niềm say mê cây chuối là nguyên nhân dẫn đến bút danh Ba-sô.

Đoạn trích đã được trình bày một cách hợp lí và hấp dẫn bởi vì người viết đã sử dụng phương pháp thuyết minh phù hợp đối tượng thuyết minh. Nhờ đó mà hình ảnh thi sĩ Ba-sô cùng bút danh của ông hiện lên một cách sinh động, sâu sắc.

 III-Luyện tập:

 Bài tập 1. Nhận xét về sự chọn lựa, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh trong đoạn trích "Hoa lan Việt Nam” (SGK).

 Gợi ý:

Đây là đoạn trích văn bản thuyết minh được viết nhằm cung cấp những tri thức về hoa lan, một loài hoa được ưa chuộng. Người viết tỏ ra có những hiểu biết thật sự khoa học, chính xác, khách quan về hoa lan ở Việt Nam.

Trong đoạn thuyết minh nay, tác giả đã phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh: chú thích, phân loại, liệt kê, nêu ví dụ,... nhờ đó mà lời thuyết minh trở nên linh hoạt, sinh động và hấp dẫn.

 Bài tập 2- Trong một buổi giao lưu với bạn bè quốc tế, anh (chị) muốn giới thiệu với các bạn một trong những nghề truyền thống của quê mình (trồng lúa, nuôi tằm, làm đồ gốm,...). Hãy viết lời giới thiệu của anh (chị) thành một bài văn thuyết minh dài khoảng 500 chữ.

 Gợi ý:

Đây là bài luyện tập mang tính tổng hợp nhưn